Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

Chém sạch chúng



Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Đận chớm qua thiênkỷ hai, mùa 10xx, nhà Tống Khựa {Song Chao} mới khaitrương, còn lômcôm lởmkhởm, giặc-cỏ gây-loạn khắp lungtung, các chưhầu chưa phục (*1).

Note: Song Chao là chánhphủ góp nhiều cảicách cônglao nhất cho kinhtế và quốcphòng Khựa, chánhphủ đầutiên trên trầngian pháthành bạc-giấy, zùng đạibác và labàn. Nhưng Song Chao không mátlòng quầnchúng. Bầnnông Khựa ychang bầnnông Giùn, chỉ saymê nòi lãnhtụ mịdân loa xoenxoét.

Xứ Giùn chúng cô, thủa ý mang-tên Giaochi Quận, một Khựa chưhầu boong thấp, cũng tậptọng xuthời (*2). Li Thai Too, aka Li Koong Waan, một batoong bạodạn, nhảy mẹ lên, xưng hoàngđế (*3). Nhẽ anh là hoàngđế nghiêmtúc đầutiên của Giùn. Trước anh, Giùn nhõn có tùtrưởng (*4). Sựcuộc này, nhằm mùa 1009.

Ngai hoàngđế ý, đươngnhiên, zo Too tự phong, tự chép vào sách, tươngtự anh Dinh Boo Ling, và zăm anh nữa (*5). Sau cú lên ngai, Too phóng côngvăn sang vua Tống, chỉ zám xin ngôi Vương (*6). Vua Tống chấpthuận, phong Too làm Giaochi Quận Vương (*7).

Quận Vương thôi, nhưng Too oai quá nhé. Anh zịch mẹ trungương từ Hoalu zìa Daila aka Hanoicho, đủi mẹ tên Hoalu thành Tràng An (copy Khựa), và Daila thành Thanglong (*8). Đây hầunhư là một ngôngnghênh cănbản, sẽ thảoluận nơi bài khác (*9). Anh cũng zựng banbậu chánhquyền, xây họcviện, chăm tănggiới, và mơmộng xâmlược các toọc lânbang (*10).

Anh Too đóng Giùn Vương quãng 20 mùa, gòi hisanh, truyền-ngôi cho anh con Li Thai Toong.

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Cùng lứa anh Toong Giùn, toọc Choang nam Khựa sinh anh Nùng Tông Phúc. Nhândân Choang toàn mang-họ Nùng, hay Tày, nên Giùn chúng cô gọi luôn chúng là, toọc Nùng, toọc Tày (*11).

Phúc là con-trai anh Nùng Dân Phú, tùtrưởng Nùng, được vua Tống thừanhận, tươngtự anh Li Thai Too (*12).

Những mùa ý, xứ Nùng, tuy cũng là chưhầu Khựa, như Giùn, zưng zộngzãi và mạnhmẽ quá nhé (*13). Phần đất Nùng, tên xưa là Quảng Nguyên, thò xuống tận Bacgiang nay, cơman mỏ vàng, mỏ ngọc. Zân Nùng đông hàng trăm vạn (*14).

Nhân nhà Tống lươnkhươn, anh Phúc tính bànhtrướng lãnhđịa. Anh tung quân đánhđá tưngbừng. Vua Tống bèn thúc anh Toong zẹp (*15). Toong trienkhai lựclượng tinhbinh, tóm mẹ Phúc và giađình, chém mẹ sạch (*15).

Một con-trai của Phúc, tên Nùng Trí Cao, chạy-thoát. Sựcuộc này, nhằm mùa 1039 (*16).

Cao Nùng nhớn, thì kiêncường côngtác khángchiến. Anh không thù anh Toong Giùn, kẻ chém papa anh, mà thù anhem quanlại Tống, đã nuốt mẹ Quảng Nguyên của anh.

Mùa 1052, Cao kéo nửa vạn đặccông, đánh bay mẹ Ung Châu, và suýt chiếm nốt Quảng Châu (*17).

Toong Giùn nghe Cao Nùng đánh bồnchồn bứcxúc, thì xuất mẹ mấy ngàn thủybinh vào cảng Khâm Châu, chiviện anhem Tống (*18).

Cao thua. Nhưng Toong suy ra, Khựa biênphòng cũng nát. Và anh nhămnhe khángchiến bật Khựa (*19).

Chưa khángchiến, thì Toong hisanh. Ngôi Giùn Vương thuộc zìa anh con Li Thanh Toong, gòi anh cháu Li Nhan Toong, tên-tục là Dick, trải quãng 20 mùa (*20).

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Sau Cao quãng chục mùa, xứ Nùng sinh thêm một lãnhtụ khángchiến, là anh Nùng Tông Đảng (*21). Sử Giùn chép anh ý tên Tông Đán, nhắm một mụcđích truyềnthông tángtận, nhưng sách Khựa vưỡn chép Tông Đảng (*22).

Đảng mưumẹo và cơhội hơn Cao. Lúc sungsức, anh quậy vua Tống miênman, cướp trại, đoạt thành. Khi kiệtquệ, anh zâng-nạp mẹ zững món đã cướp-đoạt cho vua, xin làm em tôimọi phụctòng. Liền vài lượt như vậy, nhưng vua cũng không chấp, còn giao anh quản chúng (*23).

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Mùa 1075, Đảng Nùng lại sungsức nhé. Anh lại hehe kéo nửa vạn đặccông, chia ba mũi, từ Caobang, Langson, và Mongcay, quyết diệt Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu (*23).

Đặccông Đảng xungphong zất hãi. Nhândân Choang Giùn quanh khuvực Quảng Nguyên theo zầmzập zầmzập. Đảng biên hịch vạch tội vua Tống, zán bốcáo nơinơi (*24). Nhoáng phát, anh quây mẹ Ung-Khâm-Liêm.

Dick Giùn mùa ý tíhon, nhõn 9 tuoi, chưa thamgia trungương. Lãnhtụ chánhphủ Giùn, là trángniên Li Thwong Kiet, gốcgác hoạnquan, phụcvụ từ thời Thai Toong, xảotrá tinhquái (*25).

Kiet nghe Đảng Nùng đánh bồnchồn bứcxúc, thì lại xuất mấy ngàn thủybinh, cưỡi mủng nhao sang Khâm Châu. Quả này, Giùn không chiviện Tống, zưng chiviện Nùng.

Đoàn thủybinh của Kiet kịp tiếpcận Khâm Châu, thì bộbinh của Đảng vừa bìnhđịnh xong Ung Châu, tànsát 58,000 mạng Khựa (*26). Khâm Châu buông zao, chả khángcự cặc gì. Ít ngày sau, Liêm Châu cũng mất (*27).

Kiet khoái nhé. Anh chém búaxua đám Khựa ươngbướng, gòi tháo-quân. Sử Khựa chép, Giùn chém 300,000 Khựa (*28). Sựcuộc này, nhằm mùa 1076.

Note: Khựa là toọc taychuyên phóngtác những tonthat bithương. Sử Khựa từng chép zìa thảmsát Nam Kinh 193x, báocáo 300,000 Khựa nhândân bị Nhật bộđội bămvằm (*29).

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Vua Tống không thảophạt Nùng và Giùn, vì, sau sựcuộc, anh Tông Đảng lại nạp-trả Ung-Khâm-Liêm, và thành quan Tống, đúng mụctiêu anh. Còn anh Thwong Kiet, thì biên đơn giảnghòa xíxóa (*30).

Sử Giùn khoái nhé. Lần đầutiên, và duynhất, Giùn giết thỏamãn tận 300,000 Khựa. Đcm bọn Khựa, hãy chém sạch chúng, zù bằng mồm.

Charlie Bạn Nơi Đâu

Cộngquân nhiđồng, by Phong Ky

Trích hoiky Charlie Bạn Nơi Đâu.

Khi đến đất này, suốt 6 tháng, bọn anh không gặp Charlie lần nào. Bọn anh cứ đi, đi mãi:

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Thithoảng, gặp ông hay hay, như này:

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Hoặc như này:

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Thithoảng, cũng gặp những nhândân dethuong:

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Nhưng tuyệtnhiên không thấy bạn Charlie.

Trong tâmtánh, anh tưởngtượng Charlie như này:

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Nhưng vào một chiều địnhmệnh, mọi thứ nát vụn.

Suviec batdau lúc 6 AM. Sau bốn tiếng oành-oành-oành-oành của lựuđạn, là màn tratấn bằng tieulien, 6 anh trong trungđội anh chết ngay, khoảng 5 anh khác zínhthương nặng, loại khỏi cuộc chạm-súng.

Cuộc đánh cùcưa tới mẹ trưa. Bọn anh không gọi phipháo hay khônglực, vì làm vậy đồngnghĩa tựsát đcm. Tầm bắn quá gần, mọi người nấp quanh các đụn mối. Thoigian ngưng mẹ.

Anh Tôm quyetdinh tậptrung hỏalực, quăng mẹ sạch lựuđạn, và xông lên. Nhưng, hehe. Không một bóng người, Charlie đã đi, như biến vào khonggian.

Sau hai giờ lùngsục, bọn anh pháthiện cái này:

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Quăng trái-khói, đợi 15 phút, thì bọn anh thấy cái này:

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Đcm, chán thoy gòi, huhu. 10 chienbinh trungđội anh đã tèo vì các bé này, huhu:

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Đồngchí quàng khăn cửi trần nhõn 6 tuoi, my god.

Hình cộngquân nhiđồng bonus

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net

(by miss Phong Ky, blue viper)

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2016

Một Nghị Quyết Đã Khiến Các Quốc Gia Thuộc Địa Được Trao Trả Độc Lập Mà Không Đổ Máu


Vào thập kỷ 50’s, Liên Hiệp Quốc là một cơ quan với rất nhiều quyền lực, ngay cả đối với các chính quyền cộng sản. Nhờ Nghị Quyết sau đây với sự đồng thuận tuyệt đối của Đại Hội Đồng, tất cả các thuộc địa của châu Âu, từ Á sang Phi, đã được hoàn trả quyền tự trị và độc lập. Các láng giềng của Việt Nam như Mã Lai, Indonesia, Brunei, Mayanmar…đều hưởng độc lập mà không phải gây chiến với thực dân. Riêng dân tộc Việt Nam, 6 năm trước đó, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ và đảng cộng sản đã hy sinh hơn 800 ngàn sinh mạng (có hồ sơ ghi hơn 3 triệu) để đánh Pháp dành độc lập. Có lẽ mình không biết kiên nhẫn như Mã Lai hay Indonesia?

united nations
Toàn văn:
TUYÊN BỐ VỀ TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO CÁC NƯỚC VÀ CÁC DÂN TỘC THUỘC ĐỊA, 1960.
(Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) ngày 1/4/1960 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc).
Đại Hội đồng,
Lưu ý đến quyết tâm đã được các dân tộc trên thế giới tuyên bố trong Hiến chương Liên Hợp Quốc nhằm tái khẳng định sự tin tưởng vào các quyền cơ bản của con người, nhân phẩm và giá trị của con người, quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ, đồng thời nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội và các tiêu chuẩn sống tốt đẹp hơn với sự tự do rộng rãi hơn;
Nhận thức sự cần thiết của việc tạo ra các điều kiện cho ổn định và phồn vinh cũng như mối quan hệ hòa bình và hữu nghị trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và sự tôn trọng rộng rãi và tuân thủ quyền con người và những tự do cơ bản dành cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo;
Thừa nhận sự khao khát cháy bỏng về tự do của các dân tộc phụ thuộc vào vai trò quyết định của các dân tộc đó trong việc giành được nền độc lập của họ;
Nhận thức rõ những xung đột đang tăng lên do sự chối bỏ hoặc những cản trở đối với con đường đến với tự do của các dân tộc này, đang gây ra sự đe dọa nghiêm trọng cho hòa bình thế giới;
Xét vai trò quan trọng của Hiến chương Liên Hợp Quốc trong việc trợ giúp phong trào độc lập tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản;
Thừa nhận rằng, các dân tộc trên thế giới mong muốn mạnh mẽ việc chấm dứt chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức biểu hiện của nó;
Tin tưởng rằng, sự tiếp tục tồn tại của chủ nghĩa thực dân sẽ ngăn cản sự phát triển của hợp tác kinh tế quốc tế, gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của các dân tộc phụ thuộc và cản trở ý tưởng của Liên Hợp Quốc về một nền hòa bình cho toàn thế giới;
Khẳng định rằng, các dân tộc có thể, vì các mục đích của chính mình, tự do định đoạt nguồn của cải và tài nguyên thiên nhiên mà không làm ảnh hưởng đến bất kỳ trách nhiệm nào phát sinh từ việc hợp tác kinh tế quốc tế, trên cơ sở nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và pháp luật quốc tế;
Tin tưởng rằng, tiến trình giải phóng là không thể thể cưỡng lại được và rằng để tránh những khủng hoảng nghiêm trọng, chủ nghĩa thực dân và tất cả những sự ngăn cách và phân biệt đối xử đi kèm theo nó phải bị kết thúc;
Hoan nghênh sự xuất hiện trong những năm gần đây của một số lượng lớn các lãnh thổ phụ thuộc trở thành tự do và độc lập, và thừa nhận những xu hướng mạnh mẽ đang tăng lên đối với tự do ở những lãnh thổ chưa giành được độc lập;
Nhận thức rằng, tất cả các dân tộc có quyền bất di bất dịch đối với tự do hoàn toàn và với sự thực hiện chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình;
Long trọng tuyên bố sự cần thiết thực hiện việc kết thúc nhanh chóng và không điều kiện chủ nghĩa thực dân cùng tất cả các hình thức biểu hiện của nó;
Và vì mục đích này
Tuyên bố rằng:
  1. Sự nô dịch      các dân tộc xuất phát từ ách cai trị, sự đô hộ và bóc lột của ngoại bang      cấu thành sự phủ nhận các quyền cơ bản con người là trái với Hiến chương      Liên Hợp Quốc và là một sự cản trở đối với việc thúc đẩy hòa bình và hợp      tác trên thế giới.
  2. Tất cả các      dân tộc có quyền tự quyết xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết      định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế,      xã hội và văn hóa.
  3. Việc thiếu      sự sẵn sàng về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa không bao giờ      được dùng như lý do cho việc trì hoãn (trao trả) độc lập cho các dân tộc.
  4. Tất cả mọi      hoạt động vũ trang hoặc các biện pháp đàn áp dưới bất kỳ hình, thức      nào nhằm chống lại các dân tộc phụ thuộc phải bị chấm dứt để tạo khả năng      cho các dân tộc đó thực hiện một cách hòa bình và tự do quyền độc lập hoàn      toàn của họ, và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ phải được tôn trọng.
  5. Các bước      tiến hành phải sớm được thực hiện tại các lãnh thổ quản thác và chưa      tự quản hoặc tại tất cả các lãnh thổ khác chưa giành được độc lập, để      chuyển tất cả quyền lực cho nhân dân của những lãnh thổ nào mà không có      bất kỳ điều kiện hay sự bảo lưu nào phù hợp với ý chí và nguyện vọng được      bày tỏ một cách tự do của họ không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng      tộc, tín ngưỡng hoặc màu da, để tạo ra khả năng cho các dân tộc này được      hưởng thụ nền độc lập và tự do hoàn toàn.
  6. Bất kỳ cố      gắng nào nhằm gây phá vỡ toàn bộ hay một phần sự thống nhất quốc gia và      toàn vẹn lãnh thổ của một đất nước là trái với các mục tiêu và nguyên tắc      của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
Tất cả các quốc gia phải tuân thủ một cách nghiêm túc và chặt chẽ các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới và Tuyên bố này trên cơ sở bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và tôn trọng chủ quyền của tất cả các dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ.

Cách mạng thường ăn thịt những người sinh của nó

philippoteaux_Lamartine
Tác giả: Peter St. Onge – Người dịch: Phạm Nguyên Trường
Theo Tin Tức Hàng Ngày – 16 Jan 2015
Lời người dịch: Đây có thể được coi là lời bạt cho những tác phẩm như: Đêm Giữa Ban Ngày, Bên Thắng Cuộc, Đèn Cù, Giai Cấp Mới… và nhiều tác phẩm khác nữa.
Cách mạng cánh tả là một trong những cú lừa lớn nhất trong lịch sử. Cả các nhà trí thức, những người khao khát bắn phá lẫn những người bị thiệt thòi, những người bị đưa vào trại tập trung chứ không phải vào thiên đường trên cõi thế, đều được hứa như thế cả.
“Cách mạng thường ăn thịt những đứa con của mình”. Nhận xét này, do một nhà báo đưa ra trong cuộc Cách mạng Pháp, chỉ đúng một phần. Trên thực tế, các cuộc cách mạng ăn thịt chính những người sinh ra nó. Cụ thể là, các cuộc cách mạng tả khuynh trong lịch sử ăn ngay những trí thức cánh tả, tức là những người tạo điều kiện cho cách mạng xảy ra. Tôi dùng từ “cánh tả” ở đây là để chỉ những cuộc cách mạng có mục tiêu rõ ràng là sử dụng sức mạnh của chính phủ nhằm cải tạo xã hội. Để cải tạo xã hội cho phù hợp với cách hiểu về “công lý” mà những người cổ động cho nó coi là hấp dẫn.
Tất nhiên, trong những cuộc cách mạng mang tính cải cách như thế, các nhà trí thức chỉ là một món khai vị mà thôi. Những cuộc cách mạng mang tính cải cách của lịch sử chuyển thẳng vào món chính: nó bắt đầu ăn xơi những người bị thiệt thòi và những người thiểu số, tức là những người ủng hộ cách mạng nhiệt tình nhất.
Tất cả những cuộc cách mạng cánh tả trong thế kỷ XX đều theo mô hình này: được những nhà trí thức không tưởng trợ giúp, quyền lực nhanh chóng bị các nhà chính trị chuyên nghiệp – những kẻ luôn luôn lợi dụng những bản năng thấp kém nhất của những người bình thường – chiếm đoạt. Ngay cả ở những nơi “văn minh” nhất, như nước cộng Weimar ở Đức hay “sân chơi của những ngôi sao” Cuba trong những năm 1950, những kẻ vừa mới được đưa lên ngai vàng đều lấy làm sung sướng khi nhìn thấy những nhà trí thức và những bạn bè “đã thoái hóa” của họ bị bỏ tù, bị tra tấn và bị treo cổ trên những cột đèn.
Nhắc lại chỉ thêm buồn. Nhất là đối với những người cấp tiến muốn lấy tiền của người đóng thuế để cổ vũ cho bạo lực. Mao nổi tiếng khi khoe rằng đã “chôn sống 46.000 trí thức”, ý là ông ta đã đưa tất cả bọn họ vào các trại tập trung để họ ngậm miệng và chết ở đó. Phong trào cộng sản cực đoan của Pol Pot nổi tiếng vì đã giết hàng ngàn trí thức, đến mức tất cả những người đeo kính đều bị giết. Ngay cả các chế độ được cho là “mát mẻ”, ví dụ như của Fidel Castro, cũng lập ra các trại tập trung dành cho cho người đồng tính, trong khi Liên Xô cấm đồng tính luyến ái trong hơn năm mươi năm, vượt cả Putin.
Khôi hài nhất là, từng là ngôi sao sáng trong trường đại học, nhưng người hùng cực đoan Che Guevara đã tỏ ra vui sướng và tự mình giết những người đồng tính, những người mà ông ghét cay ghét đắng, trong khi giúp xây dựng hàng loạt trại tập trung của Fidel trên khắp cả nước để tra tấn những người đồng tính và những người đàn ông biến thái nhằm buộc họ phải từ bỏ điều được coi là trụy lạc, được coi sản phẩm của chủ nghĩa tư bản suy đồi về mặt đạo đức.
Tại sao các cuộc cách mạng mang tính cải cách đều thích giết cả những người trí thức cánh tả và những “nhóm dễ bị tổn thương” vốn gần gũi như thế với trung tâm của cánh tả? Bởi vì quyền lực có logic riêng của nó. Bởi vì tất cả các chính phủ dựa vào bạo lực đều phải thường xuyên ngó lại phía sau. Và điều đó có nghĩa là nó phải kêu gọi những bản năng thấp kém nhất của quần chúng. Nếu quần chúng ghét người đồng tính, hay người Do Thái, hay các nhà trí thức thì chính phủ sẽ làm những gì nó nói, nó sẽ đưa những người đồng tính, người Do Thái và trí thức vào trại khổ sai. Những người thấp hèn nhất ghét cái gì thì chính phủ toàn trí toàn năng ghét cái ấy.
Tại sao các nhà trí thức lại không nhìn thấy mô thức hành động khủng khiếp này? Có lẽ, họ hy vọng rằng lần này khác và lần này những người cấp tiến trong các trường đại học và các chính trị gia sa lông của họ sẽ nắm được dây cương. Nếu lịch sử là người dẫn đường thì những người đó sẽ không giữ được dây cương. Không những thế, những nhà chính trị chuyên nghiệp sẽ giật mất cuộc cách mạng của họ và biến nó thành cơn ác mộng khủng khiếp nhất đối với họ: biến thành cuộc cách mạng phản-trí-tuệ, chống người đồng tính, phân biệt chủng tộc và bài Do Thái. Dù khởi nguồn của cách mạng có trong sạch đến đâu thì lịch sử cũng cho thấy kết quả tất yếu là như thế.
Chẳng có gì vui cả. Không ai trong chúng ta muốn những người cánh tả cấp tiến bị treo lên cột đèn hay bị giết trong văn phòng của Che cho ông ta xem. Chúng ta muốn là những nhà cải cách ủng hộ bạo lực sẽ phải có thái độ thận trọng hơn nữa với mồi lửa mà họ đang nhóm lên. Họ nên nghiên cứu thêm một chút về lịch sử. Để hiểu lý do tại sao, lúc nào và ở đâu nó cũng như thế, để hiểu cưỡi lên con hổ mang tên chính phủ có quyền lực không hạn chế là việc nguy hiểm đến mức nào.
Những người cánh tả nghĩ rằng họ có thể kiểm soát được con hổ mang tên quần chúng đã được phá cũi sổ lồng. Nhưng họ không thể kiểm soát được và trên thực tế, họ sẽ là người đầu tiên bị treo lên cột đèn. Và đấy là điều rất đáng buồn cho tất cả chúng ta, cả những người tả khuynh lẫn hữu khuynh.
Tác giả: Peter St. Onge
Người dịch: Phạm Nguyên Trường
Peter St. Onge là Phó giáo sư tại Taiwan’s Fengjia University College of Business.
Nguồn:  Mises Institute

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Một Nghị Quyết Đã Khiến Các Quốc Gia Thuộc Địa Được Trao Trả Độc Lập Mà Không Đổ Máu


Vào thập kỷ 50’s, Liên Hiệp Quốc là một cơ quan với rất nhiều quyền lực, ngay cả đối với các chính quyền cộng sản. Nhờ Nghị Quyết sau đây với sự đồng thuận tuyệt đối của Đại Hội Đồng, tất cả các thuộc địa của châu Âu, từ Á sang Phi, đã được hoàn trả quyền tự trị và độc lập. Các láng giềng của Việt Nam như Mã Lai, Indonesia, Brunei, Mayanmar…đều hưởng độc lập mà không phải gây chiến với thực dân. Riêng dân tộc Việt Nam, 6 năm trước đó, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ và đảng cộng sản đã hy sinh hơn 800 ngàn sinh mạng (có hồ sơ ghi hơn 3 triệu) để đánh Pháp dành độc lập. Có lẽ mình không biết kiên nhẫn như Mã Lai hay Indonesia?

united nations
Toàn văn:
TUYÊN BỐ VỀ TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO CÁC NƯỚC VÀ CÁC DÂN TỘC THUỘC ĐỊA, 1960.
(Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) ngày 1/4/1960 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc).
Đại Hội đồng,
Lưu ý đến quyết tâm đã được các dân tộc trên thế giới tuyên bố trong Hiến chương Liên Hợp Quốc nhằm tái khẳng định sự tin tưởng vào các quyền cơ bản của con người, nhân phẩm và giá trị của con người, quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ, đồng thời nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội và các tiêu chuẩn sống tốt đẹp hơn với sự tự do rộng rãi hơn;
Nhận thức sự cần thiết của việc tạo ra các điều kiện cho ổn định và phồn vinh cũng như mối quan hệ hòa bình và hữu nghị trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và sự tôn trọng rộng rãi và tuân thủ quyền con người và những tự do cơ bản dành cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo;
Thừa nhận sự khao khát cháy bỏng về tự do của các dân tộc phụ thuộc vào vai trò quyết định của các dân tộc đó trong việc giành được nền độc lập của họ;
Nhận thức rõ những xung đột đang tăng lên do sự chối bỏ hoặc những cản trở đối với con đường đến với tự do của các dân tộc này, đang gây ra sự đe dọa nghiêm trọng cho hòa bình thế giới;
Xét vai trò quan trọng của Hiến chương Liên Hợp Quốc trong việc trợ giúp phong trào độc lập tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản;
Thừa nhận rằng, các dân tộc trên thế giới mong muốn mạnh mẽ việc chấm dứt chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức biểu hiện của nó;
Tin tưởng rằng, sự tiếp tục tồn tại của chủ nghĩa thực dân sẽ ngăn cản sự phát triển của hợp tác kinh tế quốc tế, gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của các dân tộc phụ thuộc và cản trở ý tưởng của Liên Hợp Quốc về một nền hòa bình cho toàn thế giới;
Khẳng định rằng, các dân tộc có thể, vì các mục đích của chính mình, tự do định đoạt nguồn của cải và tài nguyên thiên nhiên mà không làm ảnh hưởng đến bất kỳ trách nhiệm nào phát sinh từ việc hợp tác kinh tế quốc tế, trên cơ sở nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và pháp luật quốc tế;
Tin tưởng rằng, tiến trình giải phóng là không thể thể cưỡng lại được và rằng để tránh những khủng hoảng nghiêm trọng, chủ nghĩa thực dân và tất cả những sự ngăn cách và phân biệt đối xử đi kèm theo nó phải bị kết thúc;
Hoan nghênh sự xuất hiện trong những năm gần đây của một số lượng lớn các lãnh thổ phụ thuộc trở thành tự do và độc lập, và thừa nhận những xu hướng mạnh mẽ đang tăng lên đối với tự do ở những lãnh thổ chưa giành được độc lập;
Nhận thức rằng, tất cả các dân tộc có quyền bất di bất dịch đối với tự do hoàn toàn và với sự thực hiện chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình;
Long trọng tuyên bố sự cần thiết thực hiện việc kết thúc nhanh chóng và không điều kiện chủ nghĩa thực dân cùng tất cả các hình thức biểu hiện của nó;
Và vì mục đích này
Tuyên bố rằng:
  1. Sự nô dịch      các dân tộc xuất phát từ ách cai trị, sự đô hộ và bóc lột của ngoại bang      cấu thành sự phủ nhận các quyền cơ bản con người là trái với Hiến chương      Liên Hợp Quốc và là một sự cản trở đối với việc thúc đẩy hòa bình và hợp      tác trên thế giới.
  2. Tất cả các      dân tộc có quyền tự quyết xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết      định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế,      xã hội và văn hóa.
  3. Việc thiếu      sự sẵn sàng về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa không bao giờ      được dùng như lý do cho việc trì hoãn (trao trả) độc lập cho các dân tộc.
  4. Tất cả mọi      hoạt động vũ trang hoặc các biện pháp đàn áp dưới bất kỳ hình, thức      nào nhằm chống lại các dân tộc phụ thuộc phải bị chấm dứt để tạo khả năng      cho các dân tộc đó thực hiện một cách hòa bình và tự do quyền độc lập hoàn      toàn của họ, và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ phải được tôn trọng.
  5. Các bước      tiến hành phải sớm được thực hiện tại các lãnh thổ quản thác và chưa      tự quản hoặc tại tất cả các lãnh thổ khác chưa giành được độc lập, để      chuyển tất cả quyền lực cho nhân dân của những lãnh thổ nào mà không có      bất kỳ điều kiện hay sự bảo lưu nào phù hợp với ý chí và nguyện vọng được      bày tỏ một cách tự do của họ không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng      tộc, tín ngưỡng hoặc màu da, để tạo ra khả năng cho các dân tộc này được      hưởng thụ nền độc lập và tự do hoàn toàn.
  6. Bất kỳ cố      gắng nào nhằm gây phá vỡ toàn bộ hay một phần sự thống nhất quốc gia và      toàn vẹn lãnh thổ của một đất nước là trái với các mục tiêu và nguyên tắc      của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
Tất cả các quốc gia phải tuân thủ một cách nghiêm túc và chặt chẽ các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới và Tuyên bố này trên cơ sở bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và tôn trọng chủ quyền của tất cả các dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ.

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

Sùng bái – mảnh đất tốt cho chế độ nô lệ



Trong thời Cổ Đại, chế độ nô lệ được thiết lập bằng bạo lực. Kẻ mạnh tạo ra quanh mình một nhóm những kẻ trung thành với nó, dùng bạo lực bắt những thành viên khác trong quần thể phải làm nô lệ cho chúng. Kẻ nào chống lại sẽ phải chết
Từ thời Trung Đại đến nay, trên danh nghĩa không còn chế độ chiếm hữu nô lệ. Tuy nhiên, ở nơi này nơi khác, bằng cách này hay cách khác, các nhà nước phong kiến và nửa phong kiến thực chất vẫn tạo ra trong lòng nó những kiểu chế độ nô lệ “không toàn phần”. Đặc biệt, về tư tưởng, đại đa số quần chúng thực chất vẫn phải sống trong chế độ nô lệ. Lợi dụng sự dốt nát của quần chúng – do chưa có điều kiện học tập, nghiên cứu và cũng do chính sách ngu dân – giới cầm quyền nhồi sọ con người đến mức họ có thể coi những điều vô lý và ngu xuẩn nhất như chân lý tuyệt đối. Trong số những “chân lý” khốn nạn đó có những tín điều như: vua là con trời (hay lãnh tụ là thánh) và mọi thứ ta được hưởng đều là của vua ban (hay lãnh tụ đem đến cho).

Sở dĩ kiểu nô dịch như vậy tồn tại được hàng ngàn năm là vì bên cạnh sự áp đặt ách cai trị và tư tưởng, nó còn được duy trì bởi chính tâm lý quần chúng, một thứ tâm lý của kẻ thiếu bản lĩnh và thiếu ý thức về giá trị cá nhân: tâm lý thích dựa bóng thần tượng, và do đó rất thích (cùng nhau) xây dựng thần tượng.

Vì sao con người thích thần tượng?
Có vài lý do để người ta thích thần tượng. Thứ nhất, do cảm thấy thần tượng là người che chở và đem lại quyền lợi cho mình. Điều này có khi đúng, có khi là ảo tưởng. Lãnh tụ của một cuộc khởi nghĩa chống lại một chế độ hà khắc và thối nát là nhân vật chủ chốt tạo ra sự thay đổi (ít ra ban đầu là theo chiều hướng tốt lên) cho cuộc sống của hàng vạn, hàng triệu người. Người đứng đầu một quốc gia, trước sự xâm lăng của một thế lực ngoại bang độc ác, nếu có bản lĩnh, có thể là ngọn cờ để tập hợp mọi lực lượng chống xâm lăng. Một nhà cải cách thông minh có thể định hướng cho xã hội phát triển nhanh… (Tuy nhiên, đừng bao giờ quên rằng đó mới là sự định hướng; kết quả của sự thay đổi chỉ có thể đạt được bằng mồ hôi xương máu của hàng triệu người!) Nhưng trong rất nhiều trường hợp, đông đảo quần chúng ngộ nhận kẻ bóc lột mình là ân nhân. Thứ hai, người ta bám vào những lời giáo huấn của thần tượng như những chân lý để khỏi phải động não (mặc dù chẳng mấy khi làm theo). Và thứ ba, khi có thần tượng, người ta cảm thấy chính mình dường như cao giá hơn.
Với sự châm biếm nhẹ nhàng, câu ca dao cổ nói:
“Một ngày tựa mạn thuyền rồng
Còn hơn mãn kiếp nằm trong thuyền chài.”
Thuyền rồng là quyền lực, cũng là sự sang trọng. Người “ở trong thuyền rồng” là thần tượng. Càng gần người đó, người ta càng cảm thấy mình danh giá, có quyền ngẩng cao đầu trước những kẻ đứng xa thuyền rồng hơn.
Hơn thế, chưa cần chạm được vào thần tượng hay được thần tượng vấn an, chỉ cần được nói về thần tượng thôi, người ta cũng cảm thấy rưng rưng xúc động vì hạnh phúc rồi. Đó, chi tiết này trong cuộc sống của thần tượng của tôi, liệu đã mấy ai biết. Thế mà tôi biết đấy nhé. Và tôi hiểu được giá trị của chi tiết đó. Tôi biết nói về nó. Tôi có thể làm cho mọi người hiểu thêm được vĩ nhân của chúng ta (và so với người chung quanh thì tôi được quyền “sở hữu” vĩ nhân nhiều hơn chút ít). Hiểu biết về vĩ nhân cũng là một kiểu tri thức, và ở chỗ này, tôi hơn các anh đấy nhé!

Thần tượng được xây dựng như thế nào?
Khi xảy ra một sự kiện gắn với tên tuổi một người nổi tiếng, ví dụ kỷ niệm một trận chiến mà người đó là chỉ huy bên thắng cuộc, người ta, đặc biệt là giới truyền thông, bắt đầu thi nhau nói thật nhiều, bằng những cách mà người ta cố gắng làm cho hay hơn, độc đáo hơn của những kẻ nói khác, về người nổi tiếng đó. Chỉ cần một ngày mà toàn bộ giới truyền thông đều thi nhau ca ngợi thần tượng, cuối ngày hôm đó cảm nhận của người nghe/xem về sự vĩ đại của thần tượng sẽ rõ nét hơn hẳn ngày hôm trước.
Cứ thế, nếu năm nào người ta cũng nói về người đó hàng tháng ròng trên phương tiện truyền thông, và kháo nhau tại gia đình, trên bàn nhậu ở quán xá, một đồn thổi thành mười, mười đồn thổi thành trăm, tiếng tăm của nhân vật đó tăng theo cấp số nhân… , thì sau ba-bốn mươi năm, người ta có thể biến một chính khách ban đầu có ít nhiều nổi trội thành một vĩ nhân hạng một của nhân loại. Người này thấy người khác ca ngợi mà mình chưa góp lời được thì cũng cố ca ngợi vài câu, nếu biết được một vài chi tiết cụ thể về con người đó thì càng hãnh diện. Ít có người nào tuy biết chút ít nhưng vì thấy mọi người ca ngợi quá nhiều rồi nên thấy mình nói thêm cũng thừa và nhiêu khê.
Đặc biệt, khi có một vài phóng viên hay chính khách nước ngoài ca ngợi thì tốc độ vĩ nhân hóa đối với nhân vật đó có thể vượt lên trên mọi sự tưởng tượng.
“Mày nói thế nào ấy chứ… Cụ được bao nhiêu người ở các nước văn minh ca ngợi cơ mà. Chính khách A ở nước X nói thế này. Phóng viên B ở nước Y nói thế kia…”
Một yếu tố rất thuận lợi cho việc thần tượng hóa một nhân vật chính là tâm lý thích thần tượng của người đời, thậm chí đơn giản là tâm lý ngưỡng mộ kẻ có quyền thế, đặc biệt khi người ta chưa va chạm với kẻ cường quyền. Bạn được một người lạ ôm chầm lấy trong lần gặp mặt đầu tiên, bạn sẽ thấy bình thường. Nhưng nếu người ôm bạn là một yếu nhân của một quốc gia, thì dù người đó không có gì thật sự kiệt xuất, bạn cũng sẽ thấy xúc động và nhớ mãi cái ôm đó. Sự việc như vậy có thể định hướng nhận thức về cường quyền của bạn cho toàn bộ cuộc đời. Cho nên, về mặt nhận thức, thật may mắn cho những ai thời trẻ không một lần được một vị lãnh tụ nào ôm vai bá cổ. Tôi đã chứng kiến một số nhà khoa học tài ba hết lời ca ngợi một vài hành vi rất bình thường của một chính khách có hạng, coi đó như những quyết sách cực kỳ thông minh, thể hiện một trí tuệ siêu đẳng.
Với tâm lý của đa số quần chúng như thế, việc xây dựng thần tượng càng dễ dàng, nếu giới cầm quyền thi hành một chính sách nhằm thần thánh hóa lãnh tụ. Hãy nhớ: một dân tộc văn minh bậc nhất như dân tộc Đức cũng đã từng phát cuồng phát dại vì Adolf Hitler. Nếu giả dụ tài năng của y cũng chỉ như y sẵn có, nhưng y bớt ngông cuồng chút ít, đừng tấn công Liên Xô, dừng tàn sát dân Do Thái, và thỉnh thoảng y ôm chầm lấy một vài phóng viên hay chính khách nước ngoài, thì y sẽ được xem là một trong những lãnh tụ vĩ đại của nhân loại. Bạn có thể nói: thì chính vì y không có được cái đó nên y mới không vĩ đại như một vài lãnh tụ của các dân tộc khác? Đúng vậy, nhưng đòi hỏi đó cũng có gì cao siêu lắm đâu, và làm được điều đó đâu cần phải là một thiên tài?
Và hãy nhớ lại: hàng triệu người Bắc Hàn đã và đang tin rằng cha con ông cháu họ Kim là những lãnh tụ vĩ đại. Hãy nhớ: “Gangnam Style” đang làm hàng trăm triệu người phát rồ. Và nếu có “chiến lược” quảng cáo hợp lý, khiêm tốn hơn chút ít, đồng thời đừng dùng một người “tâng” thô thiển như vị giáo sư nọ, thì Huyền Chíp cũng đã có thể trở thành thần tượng của hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam…
Tâm lý đám đông có thể làm nên những điều ghê gớm. Đặc biệt, khi nó được một tầng lớp có thế lực khéo léo lợi dụng thì nó có thể tạo ra những biến chuyển long trời lở đất. Đám người sùng bái một thần tượng có thể nghiền nát bất cứ nhóm người nào dám nói những điều không hay về thần tượng của họ.

Sùng bái – mảnh đất tốt cho chế độ nô lệ
Một khi người ta tôn thờ một thần tượng, hầu hết là suốt đời người ta sẽ trung thành với thần tượng đó, và không bao giờ đặt ra câu hỏi: Liệu ở góc độ này hay góc độ kia, vị thần tượng của mình có đúng hay không. Dưới chế độ phong kiến, chỉ cần hé răng hỏi liệu vua có sai không đã bị xử trảm rồi. Ở các nước cựu cộng sản, tình trạng cũng không khá hơn là mấy. Tại Liên Xô, ngay cả khi Stalin đã chết thì Khruschëv và một vài ủy viên bộ chính trị khác phải vất vả lắm mới tiến hành được khá thành công cuộc chiến chống lại được tệ sùng bái cá nhân Stalin, và nhiều lúc ông ta đã ở trong tình trạng nguy hiểm cả đến tính mạng. Ở hầu hết các quốc gia độc tài hay độc đảng khác, việc huyền thoại hóa lãnh tụ cũng là cản trở đáng sợ, làm cho tiến trình dân chủ hóa phải chịu biết bao hy sinh mất mát đau đớn. Nhà cầm quyền nắm được cái “thóp” đó, nên họ thường xuyên tiến hành và “mồi” cho quần chúng tham gia xây dựng và “bồi đắp” cho thần tượng.
Việc trung thành với thần tượng gần như đồng nghĩa với việc trung thành với chế độ mà thần tượng đó đã tham gia dựng nên. Vì vậy, những ai có ý thức vươn tới tự do, hãy đừng mắc mưu những kẻ muốn xây dựng thần tượng để duy trì chế độ.
Một người có công với dân tộc hay nhân loại cần phải được ghi nhận và tôn vinh. Nhưng chỉ nên làm việc đó ở mức độ vừa phải và xứng đáng. Việc ngày nào cũng ra rả ca ngợi, thường xuyên tổ chức hội thảo, tưởng niệm,… cuối cùng chỉ góp phần làm cho xã hội đi thụt lùi, kéo dài sự nô dịch.
*
Đức Phật Gautama (Thích Ca Mâu Ni) – người mà ngày càng được nhiều nhà tư tưởng, nhiều nhà bác học thừa nhận là có tư tưởng cao siêu nhất và cũng đúng đắn nhất – đã từng dạy:
“Con người phải là chỗ dựa của chính mình. Chớ tìm nơi trú ẩn ở chỗ khác.”
Theo NGUYỄN TRẦN SÂM