PHẦN KẾT: ĐÁNH VÀ ĐÀM
Đàm phán
Washington
đã từng yêu cầu thương lượng từ năm 1965, nhưng chỉ sau Mậu Thân, Hà
Nội mới bắt đầu đàm phán. Đề nghị thương lượng của tổng thống Mỹ Lyndon
B. Johnson đã được Hà Nội chấp nhận “trong vòng 72 giờ đồng hồ”. Giữa W.
Averell Harriman, Cyrus R. Vance và Lê Đức Thọ đã có những cuộc thương
lượng công khai và ngầm nhưng không có một thoả thuận nào đạt được trong
cái năm Mậu Thân máu lửa ấy.
Ngày
20-12-1968, một tháng trước khi nhậm chức Tổng thống, Richard Nixon đã
gửi một thông điệp tới Hà Nội nói rằng ông sẵn sàng để tiến hành các
cuộc đối thoại nghiêm túc; nếu Hà Nội mong muốn “trao đổi một số ý tưởng
chung trước ngày 20-1 (ngày Nixon nhậm chức), các ý kiến này sẽ được
xem xét với một thái độ mang tính xây dựng và đảm bảo bí mật tối đa”.
Nhưng “Phúc đáp của miền Bắc Việt Nam ngày 31-12-1968 hầu như không quan
tâm gì đến danh dự và tự trọng. Họ nêu một cách thẳng thừng hai yêu cầu
cơ bản: Đơn phương rút toàn bộ lực lượng quân đội Hoa Kỳ và thay thế
cái mà Hà Nội gọi là ‘bè lũ Thiệu-Kỳ-Hương’, cụm từ miệt thị chuẩn mà Hà
Nội dùng để gọi giới lãnh đạo Sài Gòn”(630).
Trong
khi đó, ở Washington, các phong trào phản đối chiến tranh lại trở nên
có tổ chức hơn và dứt khoát hơn. Gần nửa tổng số các trường hợp lính Mỹ
chết ở Việt Nam trong thời gian Nixon cầm quyền xảy ra trong sáu tháng
đầu tiên. Sau bốn tuần liên tục có số thương vong tổng cộng lên tới
1.500 lính Mỹ, Nixon đã phải hành động, và đòn quân sự đầu tiên mà Nixon
nhắm vào là ở Campuchia.
Theo
Kissinger, khi chưa chính thức vào Nhà Trắng, Nixon đã gửi cho ông một
bức thư đề nghị có một báo cáo chính xác về những gì kẻ địch có ở
Campuchia, đồng thời yêu cầu Kissinger nghiên cứu là phải làm gì để phá
huỷ các căn cứ được xây dựng ở đó. Người Mỹ ở Sài Gòn biết miền Bắc sử
dụng cảng Sihanoukville để vận chuyển vũ khí vào miền Nam.
Một
tuần sau khi Nixon nhậm chức, vào ngày 30-1-1969, Kissinger, Bộ trưởng
Quốc phòng Melvin Laird và tướng Wheeler đã họp tại Nhà Trắng để xem xét
khả năng tiếp tục ném bom miền Bắc hay tấn công vào các căn cứ của miền
Bắc ở trên đất Campuchia. Trong khi Nixon đang chần chừ, ngày
22-2-1969, Quân Giải phóng đã tiến hành một cuộc tấn công trên khắp miền
Nam. Ngay trong tuần đầu tiên, 453 lính Mỹ bị giết; tuần thứ hai, con
số này là 336; tuần thứ ba là 351. Nixon giận dữ, nhưng khi ấy ông ta
đang ở trên Airforce One bắt đầu chuyến công du ra nước ngoài đầu tiên
với tư cách Tổng thống.
Trong
hai tuần đầu tháng ba, Quân Giải phóng tiến hành 32 cuộc tấn công vào
các thành phố lớn ở miền Nam. Theo Kissinger, ngày 15-3-1969, Quân Giải
phóng đã bắn năm quả rocket vào Sài Gòn. Ngay trong ngày đó, Nixon gọi
điện thoại cho Kissinger “ra lệnh tấn công ngay lập tức bằng B-52”(631).
Cuộc tấn công bằng B-52 bắt đầu vào ngày 18-3. Ngày 22-3-1969,
Washington, thông qua phái đoàn ngoại giao ở Paris, yêu cầu đàm phán.
Theo Kissinger thì chỉ trong vòng 72 giờ, đề nghị nói trên đã được Hà
Nội chấp thuận.
Chính
quyền Nixon bắt đầu nghiên cứu việc rút quân ngay trong tuần đầu của
nhiệm kỳ nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của dân chúng và tạo động cơ cho Hà Nội
thương lượng. Ngày 10-4-1969, Tổng thống Nixon yêu cầu các bộ và cơ
quan phải lên chương trình Việt Nam hoá cuộc chiến. Cuộc gặp ngày
8-6-1969 tại đảo Midway giữa Nixon và ông Thiệu là để bàn về kế hoạch
này. Ngay sau cuộc gặp kéo dài một tiếng rưỡi đó, hai vị Tổng thống bước
ra và Nixon đã tuyên bố đợt rút quân đầu tiên của Mỹ. Tuy nhiên, không
như chính quyền trông đợi, quyết định của Nixon đã không hề mang lại
chút thời gian nghỉ ngơi nào. Đa số những người chỉ trích tin rằng, các
cuộc biểu tình của họ đã mang lại việc ngừng ném bom và hiện là quyết
định rút quân. Sức ép vì thế càng tăng nhanh hơn nữa.
Trong
một nỗ lực tìm kiếm cơ may thương lượng, ngày 15-7-1969, Trưởng Phái
đoàn Pháp tại Hà Nội năm 1946, Jean Sainteny, được mời tới phòng Oval
gặp Tổng thống Nixon. Sainteny sẵn sàng tới Hà Nội và mang theo một
thông điệp và một bức thư riêng của Nixon gửi cho Hồ Chí Minh. Theo
Kissinger, bức thư nhấn mạnh đến cam kết của Mỹ đối với hoà bình - qua
đó Việt Nam sẽ thấy Mỹ sẵn sàng và cởi mở trong một nỗ lực chung để
“mang hạnh phúc của hoà bình đến cho dân tộc Việt Nam dũng cảm”. Nhưng
Sainteny bị từ chối cấp visa. Bức thư được chuyển cho ông Mai Văn Bộ ở
Paris thay vì đưa tận tay Hồ Chí Minh ở Hà Nội, có lẽ vì đây là thời
gian mà Hồ Chí Minh đang ở trong tình trạng ốm rất nặng.
Ngày
4-8-1969, Sainteny thu xếp một cuộc gặp bí mật tại nhà riêng của ông ở
Paris cho Kissinger và Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ, cuộc gặp có ông
Mai Văn Bộ đi cùng. Kissinger cảm thấy Xuân Thuỷ là người không có thẩm
quyền thương lượng. Hai ngày sau, Quân Giải phóng tấn công vịnh Cam
Ranh, và 3 ngày sau đó, 11-8-1969, các cuộc tấn công lại diễn ra trên
100 thành phố, thị xã, và các căn cứ khác. Ngày 23-8-1969, Nixon tuyên
bố sẽ trì hoãn việc xem xét đợt rút quân tiếp theo.
Ngày
30-8-1969, ba ngày trước khi Hồ Chí Minh mất, Tổng thống Nixon nhận
được phúc đáp lá thư mà ông gửi đi hôm 15-7, thư có chữ ký của Hồ Chí
Minh đề ngày 25-8-1969. Bức thư tuyên bố: “Dân tộc chúng tôi quyết tâm
chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ để bảo vệ đất nước mình và
các quyền quốc gia thiêng liêng… Hoa Kỳ phải ngừng chiến tranh xâm lược
và rút quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền của nhân dân
miền Nam Việt Nam và của toàn đất nước Việt Nam tự giải quyết vấn đề
nội bộ mà không có sự can thiệp của nước ngoài”(632). Ngày 16-9-1969,
Nixon tuyên bố giảm thêm 40.500 quân Mỹ nữa.
Trước
đó, giữa chuyến công du vòng quanh thế giới, Nixon đã đột ngột tới Sài
Gòn. Trong thời gian đó, các cuộc biểu tình diễn ra hàng tuần trước Lầu
Năm Góc, trước những nơi mà Tổng thống dừng chân.
Ngày
3-9-1969, 225 nhà tâm lý học biểu tình bên ngoài Nhà Trắng, gọi chiến
tranh Việt Nam là “sự điên rồ của thời đại chúng ta”. Các nghị sỹ liên
tục tấn công Tổng thống. Ngày 9-10-1969, Kingman Brewster, Hiệu trưởng
trường Yale, yêu cầu rút quân vô điều kiện. Ngày 10-10, các hiệu trưởng
của 79 trường đại học tư viết thư cho Tổng thống, yêu cầu có một thời
gian biểu chắc chắn đối với việc rút quân. Ngày 14-10-1969, Thủ tướng
Phạm Văn Đồng được Kissinger mô tả là đã “đổ thêm dầu vào lửa” khi viết
thư “bày tỏ sự ngưỡng mộ những khát vọng cao xa” của công chúng Mỹ.
Trước
ngày 3-11-1969, ngày mà Tổng thống Mỹ có một phát biểu quan trọng về
Việt Nam, Nixon đã gặp Đại sứ Liên Xô tại Washington, gây sức ép: “Việc
ngừng ném bom đã kéo dài một năm; nếu không sớm có tiến bộ, Hoa Kỳ sẽ
phải thực hiện các phương pháp riêng của mình để kết thúc chiến tranh.
Mặt khác, nếu Liên Xô hợp tác trong việc đưa chiến tranh tới một kết cục
trong danh dự, thì chúng tôi sẽ ‘thực hiện điều gì đó đáng kể’ để cải
thiện quan hệ Hoa Kỳ-Xô Viết”.
Ngày
3-11-1969, Nixon đã từ chối nhượng bộ những người phản đối chiến tranh,
kêu gọi đa số dân chúng Mỹ im lặng để ủng hộ vị chỉ huy của họ. Nixon
tiết lộ việc trao đổi bí mật với miền Bắc trước khi lên nhậm chức; các
cuộc thảo luận nhiều lần với Liên Xô để thúc đẩy thương lượng; các bức
thư bí mật trao đổi với Hồ Chí Minh và tuyên bố là “không có tiến bộ
nào”.
Bài
diễn văn đã làm cho tình hình trong nước Mỹ dịu xuống. Cuối tháng
11-1969, tướng Vernon Walters, tuỳ viên quốc phòng Mỹ ở Paris, đưa đề
nghị gặp Xuân Thuỷ. Theo Kissinger, đề nghị này nhanh chóng được chấp
nhận. Ngày 12-12, tướng Walter được mời đến nơi ở của đoàn miền Bắc tại
Paris để nghe phàn nàn về “bài phát biểu hiếu chiến” ngày 3-11. Hai hôm
sau, tướng Walters gợi ý tổ chức một cuộc họp “vào một cuối tuần nào đó
sau ngày 8-2”. Hà Nội đã bắt người Mỹ chờ cho đến ngày 26-1-1970, mới
nhận được tín hiệu có thể sớm tiến hành thương lượng.
Ông
Lê Đức Thọ được bắn tin là sẽ tới tham dự đại hội đảng Cộng sản Pháp
sắp diễn ra. Cuộc thương lượng bí mật giữa Kissinger và Lê Đức Thọ được
bắt đầu vào ngày 20-2-1970, và từ đó cho đến ngày 4-4-1970 có thêm hai
cuộc gặp nữa. Ông Lê Đức Thọ đòi “các vấn đề quân sự và chính trị phải
được giải quyết đồng thời”, theo đó, “loại bỏ lập tức Tổng thống Thiệu,
Phó Tổng thống Kỳ và Thủ tướng Khiêm; thành lập một chính phủ liên hiệp
gồm những người ủng hộ “hoà bình, độc lập và trung lập”.
Chiến
tranh Việt Nam chịu không ít tác động bởi chính trường Campuchia. Ngày
23-3-1970, ông hoàng Sihanouk bị lật đổ bởi Lon Nol, người mà ông ta vừa
mới chọn làm Thủ tướng hồi tháng 8-1969. Sihanouk khi ấy đang tiếp tục
chuyến công du sau những ngày điều dưỡng thường niên tại Pháp. Kissinger
nói là Mỹ đã bất ngờ trước cuộc đảo chính ở Campuchia trong khi miền
Bắc Việt Nam thì cho rằng Lonnol là tay sai của Mỹ. Nhưng cả hai phía
sau đó đều thúc đẩy các hoạt động quân sự tại địa bàn có giá trị bàn đạp
xuống miền Nam này.
Ngày
27-3-1970, quân đội Sài Gòn đưa quân qua biên giới Campuchia truy lùng
Quân Giải phóng. Kissinger ngại rằng chính quyền Nixon sẽ bị cáo buộc là
đã bị Nam Việt Nam lôi kéo vào cuộc chiến tranh mở rộng nên đã yêu cầu
Bunker gặp Tổng thống Thiệu đề nghị tạm hoãn các hoạt động trên biên
giới. Nhưng Nixon đã bác bỏ các lo ngại đấy và yêu cầu phải phục hồi các
hoạt động xuyên biên giới. Cho đến thời điểm ấy, người Mỹ đã rút về
nước 115.000 quân. Vào cuối tháng 4-1970, Nixon quyết định rút thêm
150.000 quân nữa.
Một
ngày sau khi thông báo quyết định rút quân của Tổng thống, vào lúc 7
giờ sáng ngày 21-4-1970, Kissinger nhận được tin báo “Bắc Việt Nam đang
tấn công trên toàn Campuchia; Phnom Penh không thể chống đỡ cuộc tấn
công này lâu được”. Đêm 28-4-1970, quân đội Sài Gòn với sự tham gia của
50 cố vấn Mỹ bất ngờ tấn công vào Parrot’s Beak, Campuchia. Tối
30-4-1970, Nixon đọc diễn văn giải thích: “Không thể chấp nhận sự đe doạ
tính mạng của người Mỹ hiện đang ở Việt Nam sau khi rút thêm 150.000
lính”. Sáng hôm sau, 1-5-1970, quân Mỹ và quân Sài Gòn mở đợt tấn công
tiếp theo, trong ba tuần đầu tiên, mười hai vùng căn cứ được nói là của
Bắc Việt Nam ở Campuchia bị tấn công.
Chính
quyền Nixon cố gắng dùng các con số để chứng minh, nhờ đưa quân vượt
qua Biên giới Campuchia mà mức thương vong kể từ tháng 6-1970 giảm còn
một nửa so với trước đó (đến tháng 5-1971, chỉ còn 35 lính Mỹ chết mỗi
tuần; tháng 5-1972, còn 10 lính Mỹ chết mỗi tuần), nhưng việc đưa quân
sang Campuchia đã làm cho người Mỹ nổi giận(633).
Sau
những cuộc hành quân vượt Biên giới Campuchia, ngày 5-7-1970, Kissinger
gửi thư đề nghị gặp Lê Đức Thọ. Mãi tới ngày 18-8, Kissinger mới nhận
được trả lời, nhưng ông Thọ không đi. Ngày 7-9-1970, Kissinger gặp Xuân
Thuỷ. Ngày 17-9-1970, tại Paris, Bà Nguyễn Thị Bình, đại diện cho Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, công bố một “chương trình hoà bình tám
điểm”, yêu cầu “rút toàn bộ và vô điều kiện quân Mỹ trong vòng 9
tháng”. Ngày 7-10-1970, trong một bài diễn văn đọc tại Washington, Nixon
đề nghị một cuộc nói chuyện tại chỗ, trong đó ngừng ném bom trên toàn
Đông Dương. Ngày hôm sau, Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ “bác bỏ thẳng
thừng” những đề nghị đó.
Nixon
cử người tới Sài Gòn, và tại đây, tướng Nguyễn Văn Thiệu đã đưa ra kế
hoạch đột kích sang Lào, chia cắt đường mòn Hồ Chí Minh. Cho đến thời
điểm ấy, theo Kissinger, các sư đoàn quân đội miền Nam Việt Nam chưa bao
giờ tổ chức các chiến dịch phản công lớn ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đặc
biệt, họ sẽ phải tác chiến không có các cố vấn Mỹ ở bên, thậm chí không
có cả sỹ quan Mỹ làm nhiệm vụ hướng dẫn không kích chiến thuật.
Ngày
8-2-1971, quân đội Sài Gòn bắt đầu vượt biên giới Lào, nơi tướng Lê
Trọng Tấn đã dàn quân chờ sẵn(634). Theo tướng Giáp: “Năm 1970, tôi phát
hiện âm mưu địch cô lập miền Nam sau khi mở mấy cuộc hành quân lên
Campuchia và đẩy các đoàn sư chủ lực của ta ra khỏi biên giới. Thời gian
này, Sihanouk có sang ta và Chu Ân Lai cũng tỏ vẻ lo lắng. Nhưng tôi
khẳng định chẳng có gì đáng ngại. Từ dự kiến đó, tôi bèn lập Binh đoàn
70, ‘B 70’, do anh Cao Văn Khánh làm tư lệnh và Hoàng Phương làm chính
uỷ”(635).
Ngày
6-2-1971, Quân uỷ Trung ương họp thông qua Chiến dịch Đường 9 - Nam
Lào. Tướng Lê Trọng Tấn ngay sau khi trình bày kế hoạch này đã lên đường
ra trận. Tướng Lê Phi Long, “Chủ nhiệm Hướng” của Chiến dịch Đường 9
Nam Lào kể: “Cứ vài ba ngày Bộ chính trị lại cùng họp chung với Thường
Trực Quân uỷ Trung ương để nghe báo cáo và chỉ đạo chiến trường. Ngày
31-2-1971, khi tình hình trở nên căng thẳng, Bộ chính trị, Quân uỷ Trung
ương đã cử thêm tướng Văn Tiến Dũng vào Chiến trường. Ở “Tổng Hành
dinh”, tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy chiến dịch”. Người Mỹ chắc
chắn không thể hình dung được rằng nơi làm việc được gọi là “Tổng Hành
dinh” của vị tướng đã đánh bại họ lại chỉ được trang bị hết sức thô sơ,
không chỉ so với Lầu Năm Góc(636).
Quân
đội Sài Gòn đã chiến đấu không quá tệ ở Lào trong chiến dịch mà họ gọi
là “Lam Sơn 719”. Tuy nhiên, những hình ảnh mà truyền thông chụp được về
những quân nhân hoảng loạn, tìm cách bám vào càng hạ cánh của trực
thăng để chạy khỏi chiến trường đã không tạo được niềm tin vào một một
đội quân sắp phải đương đầu với những trận đánh quyết định. Kissinger
thừa nhận: “Cuộc tấn công này đã không biến hy vọng của chúng tôi thành
hiện thực, không những thế còn thất bại hoàn toàn”.
Lại hoà đàm
Nixon
không chỉ phải đối đầu trên chiến trường. Ngày 22-6-1971, Thượng viện
Mỹ bỏ phiếu với tỷ lệ 57-42, thông qua điều khoản bổ sung Mansfeild, kêu
gọi Tổng thống “rút toàn bộ lính Mỹ về nước trong vòng 9 tháng nếu Hà
Nội đồng ý trao trả hết các tù binh chiến tranh”. Ngày 22-6, báo chí Mỹ
đã đăng nhiều bài báo hoan nghênh Thượng viện. Ông Xuân Thuỷ đề nghị một
cuộc gặp ngay trước tháng 7. Nhà Trắng được thông báo rằng Lê Đức Thọ
trên đường đến Paris sau khi ghé Bắc Kinh và Moscow.
Lê
Đức Thọ khi ấy không hề biết rằng Kissinger cũng bí mật đến Bắc Kinh,
chuyến đi dẫn đến cuộc gặp giữa Nixon và Mao vào năm sau, một bước ngoặt
không chỉ trong quan hệ Mỹ - Trung mà còn làm cho Việt Nam có nhiều
thương tổn.
Tại
Paris, Lê Đức Thọ đề ra hạn chót cho việc rút quân Mỹ là ngày
31-12-1971, thay vì tháng 9 mà bà Bình đã từng đề nghị. Lần đầu tiên,
ông Thọ cũng đồng ý việc tù binh Mỹ sẽ được thả đồng thời với việc rút
quân của Mỹ. Ngày 1-7-1971, Bà Nguyễn Thị Bình chi tiết hơn khi công bố
“Kế hoạch bảy điểm mới”. Cả đề nghị của Lê Đức Thọ và bà Bình đã khuấy
động sự phản đối của công chúng Mỹ.
Ngày
6-7-1971, Lê Đức Thọ trả lời phóng viên Anthony-Lewis của tờ New York
Times, nhấn mạnh “điểm 1” của bà Bình - “Rút quân đổi lấy tù binh” - có
thể được tách rời khỏi các điều khoản khác. Theo Kissinger: “Đây hoàn
toàn là một lời dối trá, nó mâu thuẫn với đề xuất bí mật 9 điểm mà họ
gắn mọi vấn đề với nhau và gọi chúng là một tổng thể không thể tách
rời”. Nhưng cũng theo Kissinger: “Cả nhà báo lẫn các nhà lập pháp đều
cho những gì Hà Nội nói là đúng còn những lời chúng tôi là dối trá”. Bà
Bình và ông Lê Đức Thọ đã thành công, Quốc hội và báo chí Mỹ kết tội
chính quyền Nixon “đã bỏ lỡ một cơ hội có một không hai để có thể đạt
được hoà bình”.
Theo
Kissinger, Nixon muốn rút khỏi Việt Nam trước kỳ bầu cử tổng thống năm
1972 mà không làm chính quyền Sài Gòn sụp đổ. Khi chuyến công du bí mật
đến Bắc Kinh thành công, Nixon trở nên cứng rắn hơn với Việt Nam.
Trong
ngày 12-7-1971, Nixon nhắc lại với tướng Haig ý định rút quân chóng
vánh đồng thời tấn công tổng lực bằng không quân vào Miền Bắc. Kissinger
gặp Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ vẫn bên một chiếc bàn hình chữ nhật có phủ
một tấm vải xanh, “nhưng khung đàm phán thì không như xưa nữa; nó đã bị
thay đổi cơ bản sau chuyến đi Bắc Kinh mặc dù Lê Đức Thọ vẫn chưa biết
điều này”.
Cuộc
họp được coi là gay gắt, tuy nhiên theo Kissinger, phía Bắc Việt Nam có
vẻ thực sự muốn đàm phán. Hà Nội “yêu cầu bồi thường chiến tranh” và
“khăng khăng đòi lật đổ chính quyền Sài Gòn”. Vấn đề bồi thường chiến
tranh không phải là không thể nhân nhượng, nhưng theo Kissinger: “Chúng
tôi sẽ không lật đổ chế độ Miền Nam Việt Nam để đổi lấy hoà bình”.
Ngay
từ lúc này, ông Xuân Thuỷ đã “ngụ ý” rằng tướng Dương Văn Minh có thể
là một người mà Hà Nội có thể chấp nhận để thay thế tướng Thiệu. Nhưng
theo Kissinger, Minh sẽ là vị tổng thống dễ lật đổ nhất, trong khi
Nguyễn Văn Thiệu là một lãnh đạo quân sự cứng nhất, là người có năng lực
nhất trong số các chính khách Sài Gòn.
Ngày
16-8-1971, lại có một cuộc gặp nữa giữa Kissinger và Xuân Thuỷ.
Kissinger đến chậm nửa tiếng, Xuân Thuỷ nói: “Mặc dù các ông đưa được
người lên mặt trăng nhưng vẫn đến cuộc họp muộn”. Ông Xuân Thuỷ có thể
sẽ không hài hước như thế nếu biết, trong nửa giờ đó, Kissinger đã có
một cuộc họp bí mật với đại sứ Trung Quốc ở Paris, Huang Chen, người
được coi là đồng minh của Bắc Việt Nam.
Trong
suốt thời gian đàm phán, chiến tranh Việt Nam luôn được Kissinger đưa
ra trả treo với Liên Xô thông qua Đại sứ Dobrynin, và với Bắc Kinh thông
qua đại sứ Hoàng Hoa ở Liên Hiệp Quốc. Các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam
chỉ biết được chuyến đi bí mật của Kissinger đến Bắc Kinh 36 giờ trước
khi nó được công bố. Theo Kissinger: “Hà Nội tức điên đến mức họ biến
các cuộc đàm phán trở thành băng giá”.
Theo
ông Đống Ngạc, Thư ký riêng của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn: “Sau đó, Trung
Quốc có cho Chu Ân Lai sang giải thích. Anh Ba nói: Các đồng chí muốn
vào Liên Hiệp Quốc các đồng chí cứ vào nhưng các đồng chí không được
thay mặt Việt Nam bàn về vấn đề miền Nam với Mỹ”. Ông Đống Ngạc nói
tiếp: “Ta hiểu, sở dĩ Trung Quốc đạt được thoả thuận đó với Mỹ là do
cuộc chiến của mình. Có chiến tranh Việt Nam, thế Trung Quốc trên trường
quốc tế cao hơn. Mỹ nghĩ vấn đề Việt Nam không giải quyết được là do
chưa kéo được Trung Quốc”.
Không
biết có phải là nhằm đáp trả hành động của ông Lê Đức Thọ và bà Nguyễn
Thị Bình đã làm ở Paris, ngày 25-1-1972, Nixon công bố các biên bản đàm
phán trước người dân Mỹ và đọc một bài diễn văn cho thấy các đề nghị của
ông đã bị Hà Nội bác bỏ. Nixon nói: “Chỉ có một điều, đó là ngả về phía
kẻ thù để lật đổ đồng minh của chúng ta, điều mà nước Mỹ sẽ không bao
giờ làm. Nếu kẻ thù muốn hoà bình họ phải nhận ra sự khác biệt quan
trọng giữa thoả thuận với sự đầu hàng”(637).
Ngày
2-2-1972, miền Bắc ra tuyên bố công khai đồng ý tù binh sẽ được thả vào
ngày người lính Mỹ cuối cùng được rút về nước. Nhưng vấn đề này phải
được gắn với việc kêu gọi Thiệu từ chức ngay lập tức đồng thời giải tán
lực lượng cảnh sát, quân đội Sài Gòn.
“Mùa hè đỏ lửa”
Trong
khi đó, từ tháng 5-1971, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam đã
dự thảo kế hoạch để Quân uỷ xác định chiến lược 71-72, đẩy mạnh tiến
công quân sự và chính trị trên cả ba vùng ở miền Nam.
Thoạt
đầu, Quân uỷ dự kiến: “Hướng tấn công chủ yếu 1” là chiến trường biên
giới Campuchia và chiến trường Đông Nam Bộ; “Hướng chủ yếu 2” là chiến
trường Tây Nguyên; “Hướng phối hợp quan trọng” là miền núi Tây Trị
Thiên. Vào đầu tháng giêng năm 1972 sau khi nắm lại tình hình, thấy việc
bảo đảm vật chất cho chiến trường Nam Bộ và Tây Nguyên không đạt được,
Bộ Chính trị và Quân uỷ quyết định lấy Trị Thiên làm chiến trường chủ
yếu, như đề xuất ban đầu của tướng Giáp, mặc dù khi đó ngày mở đầu Chiến
dịch đã cận kề.
Theo
tướng Lê Phi Long, trong chiến dịch này, nơi đặt “Tổng Hành dinh” đã
khang trang hơn, đã có đủ các phương tiện thông tin, máy ghi âm… Công
tác bảo mật thì lại càng siết chặt: cửa phòng thường xuyên đóng kín,
ngay cả cán bộ trong Cục không có nhiệm vụ tác chiến cũng không được
vào. Ngày 30-3-1972, quân đội của tướng Giáp mở đầu cuộc tấn công chiến
lược trên toàn miền Nam.
Theo
Kissinger thì tướng Abrams biết trước cuộc phản công từ đầu tháng
Giêng, và việc sử dụng B52 đã được tính tới. Nhưng Nhà Trắng cho rằng có
thể sẽ can thiệp bằng chuyến đi Bắc Kinh; Bộ ngoại giao lo B52 sẽ
“thiêu rụi những triển vọng đàm phán với Hà Nội”; Bộ Quốc phòng sợ phải
đưa ra những gánh nặng ngân sách mới. “Mọi người đều lo sợ làn sóng phản
đối của nhân dân sẽ bùng lên không kiểm soát nổi nếu nối lại các cuộc
ném bom miền Bắc, ngay cả chỉ ở một phạm vi hạn chế”, Kissinger nói.
Nixon
ngay sau đó đã gửi một bức thư tới Brezhnev, một bức thư khác được
chuyển tới Huang Chen, đại sứ Trung Quốc ở Paris người có quan hệ gần
gũi với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Kissinger nhận định “Cả Bắc Kinh
và Moscow đều đứng ngồi không yên. Cả hai bên đều không muốn bị coi lơ
là nhiệm vụ với đồng minh Bắc Việt Nam của mình. Tuy nhiên, cả hai đều
lo sợ rằng tình trạng bất trị của Hà Nội có thể phá vỡ những mục tiêu
lớn với Mỹ”. Bắc Kinh không đếm xỉa gì đến các cuộc đàm phán, họ chưa
bao giờ yêu cầu Mỹ thực hiện một cam kết nào đối với Việt Nam.
Washington đánh giá sự ủng hộ thực tế của Trung Quốc với Hà Nội là không
đáng kể do nguồn lực hạn chế, do đó, Mỹ không cần gây sức ép thêm với
Trung Quốc nữa. Còn Moscow thì “đổ lỗi hoàn toàn cho Bắc Việt” trong
việc “không ủng hộ những đề nghị mới nhất” của Mỹ.
Trước
chuyến đi Trung Quốc của Nixon, ông Lê Đức Thọ đề nghị gặp Kissinger
vào ngày 15-3, Kissinger đề nghị gặp vào ngày 20-3-1971. Ngày 29-2-1971,
khi Nixon đã rời Trung Quốc, ông Võ Văn Sung, đại diện của Hà Nội tại
Paris, mời tướng Walters đến để thông báo ông Lê Đức Thọ đồng ý gặp nhau
vào ngày mà Kissinger đề nghị.
Thoạt
đầu Kissinger ngạc nhiên vì sao Hà Nội lại muốn gặp vào thời điểm này,
nhưng ngay sau đó, Kissinger nhận ra: “Hà Nội sẽ phát động cuộc tấn công
mà họ đã chuẩn bị rất điên cuồng và sau đó sẽ sử dụng cuộc gặp của tôi
với Lê Đức Thọ để ngăn cản các cuộc đáp lại quân sự của chúng ta, họ
nghĩ chúng ta sẽ e ngại tấn công trong khi đang diễn ra cuộc đàm phán”.
Ở
Quảng Trị, theo tướng Lê Phi Long: Lực lượng của miền Bắc rất mạnh,
không kể địa phương quân, chỉ tính riêng chủ lực có đến 5 vạn người, gồm
3 sư đoàn, nhiều trung đoàn độc lập và các đơn vị kỹ thuật. Sau 6 ngày
đêm chiến đấu, ngày 4-4-1972, tuyến phòng thủ trên hướng chính của Quân
đội Sài Gòn vị phá vỡ và bị buộc phải rút nhiều căn cứ và tháo chạy về
co cụm ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang, Quảng Trị… Nhưng đến chiều 8-4-1972
thì tình hình ngược lại, các mũi đột kích đều không phát triển được; các
đơn vị đánh vào Đông Hà bị thiệt hại nặng. Trong khi Hà Nội vẫn không
thống nhất được mục tiêu của Chiến dịch(638).
Theo
tướng Lê Phi Long: “Vào lúc 5 giờ sáng ngày 24-4-72, pháo binh ta bắn
gần 3 vạn quả đạn vào các cụm quân địch ở Đông Hà, Lai Phước, Ái Tử, La
Vang. Lợi dụng lúc địch bị pháo ta chế áp, bộ binh và xe tăng, đặc công
nhanh chóng chiếm các điểm cao phía tây, thọc sâu vào sân bay chiếm Đông
Hà. Bị cánh vu hồi của quân ta phá cầu Lai Phước, địch hoảng loạn rút
chạy, bỏ lại tất cả xe cộ, vũ khí nặng và đến 18 giờ 28-4 ta làm chủ
hoàn toàn khu Đông Hà, Lai Phước. Trong khi đó, ta và địch quần nhau
từng tấc đất ở cụm Ái Tử và cầu Quảng Trị”.
Ngày
4-4-1972, Nixon ra lệnh “không kích chiến thuật” ra đến Vinh bằng cách
bổ sung 20 máy bay B 52, bốn phi đội máy bay ném bom F-4, thêm tám tàu
khu trục được gởi đến Đông Nam Á. Trước đó một ngày, Kissinger gặp
Dobrynin ở Phòng Bản đồ của Nhà Trắng, trách Liên Xô đã đồng loã với
cuộc tấn công của Hà Nội, và doạ: “Nếu cuộc tấn công tiếp tục, Mỹ có thể
phải có biện pháp cho Moscow thấy những lựa chọn khó khăn trước cuộc
họp thượng đỉnh”. Ngày 4-4, người phát ngôn báo chí của Bộ ngoại giao Mỹ
nói khi họp báo: “Cuộc xâm lược miền Nam của Bắc Việt Nam đã được thực
hiện bằng vũ khí của Liên Xô”. Cùng lúc, Kissinger cử Winston Lord tới
New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc để gửi một
thông điệp bằng lời cho Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại
khoảng cách 12 dặm”. Trước đó, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trong vòng 3
dặm, tức là trong phạm vi bao gồm lãnh hải Hoàng Sa của Việt Nam. Một
cuộc họp kín giữa Lê Đức Thọ và Kissinger đã được đôi bên thoả thuận vào
ngày 2-5-1972. Tình hình chiến trường đã giúp Lê Đức Thọ đến Paris với
một tư thế hoàn toàn khác với những lần trước đó(639).
Sáng
1-5-1972, Quân giải phóng chiếm cầu Quảng Trị và sân bay. Ngày
2-5-1972, Quảng Trị rơi vào tay miền Bắc. Một tuần trước đó, Quân Giải
phóng đã triển khai một cuộc tấn công lớn đe doạ thủ phủ Kontum và
Pleiku; tiêu diệt khoảng một nửa Sư đoàn 22 của Sài Gòn. An Lộc, một thị
xã cách Sài Gòn hơn 100 km cũng gần như thất thủ. Gần sát cuộc gặp, Sư
đoàn 3 của Việt Nam Cộng hoà bị tiêu diệt hoàn toàn. Ở Quảng Trị, chính
quyền Sài Gòn ước tính có khoảng 20.000 người miền Nam cả quân lẫn dân
bị chết. Nhiều đơn vị Việt Nam Cộng hoà bỏ chạy tán loạn.
Kissinger
mô tả rằng cuộc họp kín ngày 2 tháng 5 diễn ra rất thô bạo. Nhưng ông
Thọ khi ấy không biết Nixon đã dặn Kissinger rằng, cho dù kết quả đàm
phán thế nào, ông vẫn ra lệnh cho ba máy bay B52 công kích Hà Nội và Hải
Phòng vào những ngày cuối tuần, từ 5 đến 7-5-1972. Nixon nhấn mạnh với
Kissinger ông chấp nhận huỷ bỏ cuộc gặp thượng đỉnh ở Moscow trừ khi
tình hình được cải thiện. Tại một trang trại ở Texas, Nixon cảnh báo:
“Hà Nội đang chấp nhận nguy hiểm rất lớn nếu tiếp tục tấn công miền
Nam”.
Nison
đã nhận kết quả cuộc gặp ngày 2-5-1972 một cách lặng lẽ và cam chịu.
Ông tỏ ra kiên quyết với lệnh ném bom B52 hơn. Kissinger cho rằng trong
ngày 2-5-1972, Lê Đức Thọ chỉ “giả vờ thương thuyết” vì “tin chắc rằng
họ đang tới rất gần chiến thắng”. Theo Kissinger, “thái độ làm cao của
Lê Đức Thọ” đã khiến cho Nixon trở nên “rất hùng hổ”. Thứ Sáu, ngày
5-5-1972, B52 bắt đầu trút bom xuống Hải Phòng và Hà Nội, đồng thời mìn
ngư lôi được thả bao vây các cửa biển miền Bắc.
Sau
khi nhận được thư của Brezenhev trấn an thái độ bi quan của Mỹ về cuộc
họp ngày 2-5 với Lê Đức Thọ là không hợp lý, Washington trở nên quyết
tâm hơn khi nhận thấy thư của Brezhnev “không đưa ra lời đe doạ cụ thể
nào”. Trong khoảng từ 25-4 đến 5-5-1972, Nixon đã đưa ra lệnh ném bom
xuống đê sông Hồng, tăng cường ném bom các trung tâm thành phố và dự
định sử dụng cả “vũ khí hạt nhân”. Theo Kissinger: “Tôi kịch liệt phản
đối các kế hoạch này, và Nixon thì đã không kiên quyết”.
Washington
cũng đồng thời nhận được “tín hiệu” từ Trung Quốc qua bài Xã luận đăng
trên Nhân dân nhật báo số ra ngày 11-5-1972. Đằng sau những ngôn từ to
tát như: “Kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam”; “Vô cùng phẫn nộ và mạnh
mẽ lên án” đế quốc Mỹ, Washington nhận ra thông điệp của Trung Quốc khi
thấy “bài xã luận” xác định Bắc Kinh chỉ làm “hậu phương” của Việt Nam.
Bên cạnh bài xã luận “lên án Mỹ” đó, Nhân dân nhật báo đã cho đăng
nguyên văn diễn văn của Nixon công bố một ngày trước đó giải thích vì
sao mà ông ta đã phải ném bom miền Bắc.
Ở
Quảng Trị, lúc bấy giờ, theo tướng Lê Phi Long, sau 2 đợt chiến đấu
liên tục, sức khỏe của bộ đội miền Bắc đã giảm sút, quân số bị hao hụt,
các đơn vị binh chủng thì thiếu khí tài, sức kéo, đạn dược. Nhưng không
hiểu vì sao Lãnh đạo Bộ và Tư lệnh chiến trường lại chủ trương mở tiếp
đợt tấn công thứ ba nhằm giải phóng Thừa Thiên - Huế.
Ngày
4-5-1972, ba ngày sau khi chiếm được Quảng Trị, Bộ có điện số 32 chỉ
thị tiếp cho Bộ Tư lệnh chiến dịch: “Kịp thời nắm lấy thời cơ phát triển
tiến công với một tinh thần khẩn trương triệt để, liên tục, kết hợp
tiến công của bộ đội chủ lực với nổi dậy của quần chúng và phong trào
cách mạng Huế, tiêu diệt đại Bộ phận lực lượng quân sự Mỹ; giải phóng
hoàn toàn tỉnh Thừa Thiên, bao gồm cả thành phố Huế và căn cứ Phú Bài,
sau đó phát triển về Đà Nẵng”. Đây là một chỉ đạo mà theo tướng Lê Phi
Long: “Chủ quan nặng!”
Sau
chỉ thị đó, dưới sự chủ trì của tướng Giáp, các cuộc họp nối tiếp cuộc
họp để hoàn chỉnh kế hoạch. Cơ quan Tác chiến làm việc tới 20 giờ/ngày.
Vất vả nhất là khoảng từ 6 giờ tối đến 12 giờ đêm vì, theo tướng Lê Phi
Long, lúc này chiến trường mới điện báo cáo tình hình lên Bộ Tổng Tham
mưu. Quảng Trị bắt đầu trở thành cối xay thịt khi Quân đội Sài Gòn, dưới
sự phối hợp của không quân và pháo hạm Mỹ bắt đầu phản công, gây thiệt
hại nặng nề cho quân miền Bắc(640).
Một
tuần sau, huyện Hải Lăng và một phần huyện Triệu Phong bị chiếm lại,
quân đội Sài Gòn áp sát thị xã. Lực lượng miền Nam khi ấy gồm 3 sư đoàn
được yểm trợ bằng hoả lực mạnh của không quân và pháo hạm Mỹ. Lực lượng
miền Bắc, tuy có 5 sư đoàn nhưng đã mất sức chiến đấu, quân số của mỗi
đại đội chỉ còn từ 20 đến 30 người mà phần lớn là cán bộ. Gạo, đạn tiếp
tế kiểu ăn đong. Theo “Chủ nhiệm Hướng” Lê Phi Long: “Ngày 30-6, mười
ngày sau khi mở đợt 3 tấn công không thành công, tướng Văn Tiến Dũng trở
ra Hà Nội vì lý do sức khỏe”. Ngày 20-7 tướng Trần Quý Hai được cử vào
thay tướng Lê Trọng Tấn; tướng Song Hào thay tướng Lê Quang Đạo. Các vị
tướng này sức khỏe đều giảm sút và mệt mỏi.
Tình
hình phát triển ngày càng xấu hơn, thế nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch vẫn
chủ trương tiếp tục phản công và tiến công. Trong khi, theo tướng Lê Phi
Long, không đánh được một trận tiêu diệt nào dù là phân đội nhỏ. Thời
tiết thì hơn nửa tháng liền, không mấy ngày được nắng ráo, nhiều trận
mưa kéo dài, hầm hào lúc nào cũng ngập nước, trong khi B52, pháo mặt
đất, pháo hạm liên tục dội bom. Bộ đội phải chiến đấu liên tục không có
thời gian làm công sự. Thương vong ngày càng tăng.
Trong
thời điểm nóng bỏng ấy, Văn Tiến Dũng đang đi an dưỡng ở Tam Đảo, Lê
Trọng Tấn vừa ở chiến trường ra đang trong thời kì dưỡng bệnh, tướng
Giáp phải trực tiếp điều hành mọi công việc của Bộ Tổng tham mưu. Ông
đọc cho tướng Lê Phi Long viết bức điện gửi thẳng xuống đơn vị cho
Nguyễn Hữu An, Sư trưởng Sư đoàn 308 và Hoàng Đan, Sư trưởng Sư đoàn
304. Bức điện viết: “An, Đan/Báo cáo ngay tình hình, chờ/V”. Bức điện
cho thấy Tổng Tư lệnh rất sốt ruột.
Ngay
ngày hôm sau, Nguyễn Hữu An gửi cho vị tướng mà ông tin cậy một bức
điện dài 4 trang, nói rõ: “Tôi thấy không nên tiến công, và nên chuyển
vào phòng ngự. Ở đây công tác chỉ đạo chỉ huy vẫn ham tấn công và phản
công, trong tình thế địch mạnh hơn ta, ăn hiếp ta, lực lượng ta đã suy
giảm và đang rơi và bị động. Tôi nghĩ rằng sức ta yếu hơn địch, ta
chuyển vào phòng ngự là cần thiết. Nhưng ở đây hễ nói đến phòng ngự cấp
trên lại cho rằng đó là tư tưởng hèn nhát, thụ động. Đề nghị với Bộ
quyết tâm dứt khoát chuyển sang phòng ngự. Tình hình này ta muốn tiêu
diệt gọn một tiểu đội, một trung đội cũng khó”. Sư trưởng Hoàng Đan thì
trả lời khéo léo hơn: “Theo kinh nghiệm của tôi thì một trung đoàn chủ
lực của ta chỉ đánh được 2 trận tập trung là hết sức, nếu không được
nghỉ ngơi củng cố thì không thể tiếp tục chiến đấu thắng lợi. Còn quân
ta ở đây đã chiến đấu liên miên 2 đến 4 tháng rồi còn sức đâu mà đánh
tiêu diệt”. Nhận được điện, tướng Giáp rất lo lắng. Nhưng, lúc ấy không
những giữa chiến trường và Đại Bản doanh có ý kiến khác nhau mà trong
nội bộ Đại Bản doanh ý kiến cũng khác nhau(641).
Tướng
Giáp thận trọng lập một “Tổ nghiên cứu” do tướng Vương Thừa Vũ đích
thân hướng dẫn. Trong cuộc họp kết luận, tướng Giáp sau khi giảng hoà
mâu thuẫn giữa các sỹ quan tác chiến đã phải chỉ vào đống sách do ông tự
tay mang đến: “Các nhà lý luận quân sự của chúng ta cũng đều nói có
tiến công, có phòng ngự. Engels cũng đã nói điều đó. Thực tế chiến
trường đòi hỏi chúng ta phải chuyển qua phòng ngự. Cục tác chiến hãy
điện cho chiến trường tham khảo ý kiến của các đồng chí trong mặt trận
xem sao”.
Cục
Trưởng Tác chiến lúc ấy là tướng Vũ Lăng lệnh cho ông Long gửi một bức
điện dài, theo tướng Lê Phi Long: “Sau khi phân tích lý luận và thực tế,
Điện gợi ý mặt trận nên chuyển sang phòng ngự”. Bức điện ký tên Vũ Lăng
phát đi 2 hôm thì Cục Tác chiến nhận được trả lời. Trong điện trả lời,
tướng Trần Quý Hai dùng lời lẽ gay gắt phê phán Cục Tác chiến không giữ
vững quyết tâm, không quán triệt tư tưởng làm chủ và tiến công… Rồi Bộ
Tư lệnh Chiến dịch ra lệnh phản công mặc dầu đã trải qua 3 cuộc phản
công không kết quả.
Trước
tình hình đó, theo ông Phi Long, tướng Giáp phải họp Thường trực Quân
uỷ Trung ương để thảo luận tiếp, và cuối cùng xác định dứt khoát phải
chuyển sang phòng ngự. Cùng thời gian ấy, quân đội Sài Gòn tăng thêm lực
lượng, hình thành thế bao vây, thường xuyên bắn phá dữ dội các trận địa
pháo của miền Bắc, đặc biệt là chung quanh thành cổ Quảng Trị. Máy bay
B52 rải thảm bờ bắc sông Bến Hải. Từ ngày 9 đến 16-9-1972, quân Giải
phóng đồng loạt tiến công trại La Vang, Tích Tường, Như Lệ, Bích Khê,
Nại Cựu và Thị xã. Nhiều trận phản kích đẫm máu của bộ đội sát chân
thành cổ, giành giật nhau từng mô đất, bờ tường. Mỗi ngày, quân miền Bắc
trung bình mất một đại đội. Đến đêm 16-9, một bộ phận nhỏ còn lại buộc
phải rút khỏi thành cổ, sau 81 ngày đêm khốc liệt.
Tướng
Lê Phi Long kể: “Sáng 17-9, Cục Tác chiến mới nhận được điện báo ‘Thành
Cổ mất tối hôm qua’. Trong khi đó thì trên phòng họp, Quân uỷ Trung
ương vẫn đang bàn về ‘phối hợp đấu tranh quân sự chính trị và ngoại
giao’ thông qua mặt trận Quảng Trị. Dự họp có Trường Chinh, Phạm Văn
Đồng, Trần Quốc Hoàn, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh, Tố Hữu và các vị
trong thường trực Quân uỷ. Lúc này Lê Đức Thọ đã có mặt ở Paris để hội
đàm với Kissinger. Được tin dữ, anh Văn rời cuộc họp xuống chỗ Cục tác
chiến đích thân nói điện thoại với mặt trận qua xe thông tin tiếp sức
đậu trước sân Cục Tác chiến”.
Khác
với thời làm Tư lệnh Chiến trường Điện Biên Phủ, “tướng quân tại
ngoại”, có đầy đủ quyền bính để quyết định. Trong cuộc chiến giành thống
nhất, không phải lúc nào tướng Giáp cũng có thể đưa ra những quyết định
quân sự mà ông tin là đúng đắn. Những người chỉ huy chiến dịch Quảng
Trị chịu rất nhiều áp lực từ các cuộc Hội đàm giữa Kissinger và Lê Đức
Thọ(642).
Theo
tướng Lê Phi Long, trong thời gian diễn ra Chiến dịch Quảng Trị: “Ông
Lê Đức Thọ không hiểu bằng con đường nào, thường xuyên điện thẳng cho
các sư đoàn không qua điện đài của Bộ Tổng Tham mưu, vừa để nắm tình
hình vừa tự ý đôn đốc đánh. Kỳ quặc! Chúng tôi, cơ quan tham mưu, không
đồng tình với cách làm này nhưng không biết than thở với ai, hình như
anh Văn cũng cảm nhận được điều đó nên có lần đã nói với chúng tôi: Cần
kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, nhưng
mỗi lĩnh vực có quy luật riêng của nó, ví như về quân sự thì trước hết
phải bảo đảm chắc thắng, nếu không diệt được địch, không phát triển lực
lượng thì không phối hợp quân sự với ngoại giao được”. Tướng Lê Hữu Đức
thừa nhận: “Cố đánh Quảng Trị là do nhu cầu đàm phán”.
Thành
cổ Quảng Trị thất thủ khi quân miền Bắc đã gần như hoàn toàn kiệt sức.
Theo tướng Lê Phi Long: “Lực lượng chiếm giữ Thành Cổ khi đó nói là có
mấy tiểu đoàn nhưng trên thực tế chỉ còn phiên hiệu, mỗi tiểu đoàn chỉ
còn ba bốn chục người. Việc bổ sung quân số tiếp tế qua sông hết sức khó
khăn. Nhiều sinh viên đã phải rời giảng đường để nhập ngũ. Nhiều tân
binh chưa gặp mặt người chỉ huy đã ngã xuống. Nhiều cán bộ chỉ huy ngày
đêm vất vả, râu tóc mọc kín mặt mà không có thời gian cắt cạo. Trong hầm
phẫu ở ngay dinh Tỉnh Trưởng cũ thường xuyên có trên dưới 200 thương
binh, sặc mùi hôi thối. Các lực lượng trong Thành Cổ thì chiến đấu một
cách tuyệt vọng, còn các đơn vị ở các hướng khác, tuy có cố gắng đánh
vào cạnh sườn để hỗ trợ cho lực lượng ở trong Thành nhưng cũng không tạo
được hiệu quả. Chiến dịch Quảng Trị kéo dài, thương vong rất lớn, có
thể nói là lớn nhất so với tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng
chiến. Mỗi lần nghĩ lại tôi rất đau lòng. Ta đã tung hết lực lượng, đã
kiệt quệ. Có lúc tôi đã phải điều học viên trường Lục Quân về gần thủ đô
lập một lữ đoàn để bảo vệ Trung ương, vì hết cả quân”.
Cơ hội hoà bình
Nhưng
việc Sài Gòn lấy lại Quảng Trị lại giúp phá vỡ những bế tắc trong đàm
phán. Dưới sự chủ toạ của Bộ trưởng Ngoai giao Nguyễn Duy Trinh, Hiệp
định và một số Nghị định thư cần thiết đã được soạn. Ngày 26-9-1972, Trợ
lý Bộ trưởng Bộ ngoại giao Lưu Văn Lợi đã mang các dự thảo tới Paris.
Ngày
4-10-1972, sau khi Bộ chính trị xem xét lại dự thảo Hiệp định, Hà Nội
thông báo cho Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ: “Ta cần tranh thu khả năng chấm
dứt chiến tranh trước ngày bầu cử ở Mỹ, đánh bại âm mưu của Nixon kéo
dài đàm phán để vượt tuyển cử, tiếp tục Việt Nam hoá chiến tranh, thương
lượng trên thế mạnh… Yêu cầu lớn nhất của ta hiện nay là chấm dứt chiến
tranh của Mỹ ở miền Nam. Mỹ rút hết, chấm dứt sự dính líu quân sự của
Mỹ ở miền Nam và chấm dứt cuộc chiến tranh không quân, hải quân, thả mìn
chống miền Bắc… Chi ghi nguyên tắc về quyền tự quyết, tổng tuyển cử,
giữ gìn hoà bình, hoà hợp dân tộc và ghi một câu ngắn ‘thành lập Chinh
quyền hoà hợp dân tộc các cấp gồm ba thành phần với nhiệm vụ đôn đốc và
giám sát các bên thi hành các Hiệp định ký kết”(643).
Ngày
8-10-1972 khi Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo các điều khoản hiệp định đề
nghị ký kết, Kissinger viết: “Các đồng nghiệp và tôi đều hiểu ngay tầm
quan trọng của những điều mình vừa nghe. Ngay lúc nghỉ giải lao, Winston
Lord và tôi đã bắt tay và nói với nhau: ‘chúng ta đã thành công rồi’.
Haig, người đã từng phục vụ tại Việt Nam, thốt lên đầy xúc động rằng
chúng tôi đã bảo toàn được danh dự cho các chiến binh từng phục vụ, đã
chịu đựng và hy sinh ở Việt Nam”(644).
Điều
quan trọng nhất mà miền Bắc muốn - Mỹ rút quân mà Hà Nội không rút quân
- thì ở trên bàn đàm phán, Kissinger đã chấp nhận từ năm 1971. Trên
thực tế, cho đến khi ký Hiệp định Paris, Nixon đã đơn phương rút quân:
từ 545.000 quân năm 1968 xuống còn 27.000 quân năm 1972.
Cuộc
đàm phán tưởng như đã tới hồi kết thúc, Kissinger dự kiến sẽ quay lại
Paris vào ngày 17-10 gặp Xuân Thuỷ, thống nhất nốt “hai tồn tại” về nhân
viên dân sự bị giam giữ ở miền Nam và việc “thay thế thiết bị quân sự”,
được ngầm hiểu như là một viện trợ quân sự cho Sài Gòn. Ngày 18-10, từ
Paris, Kissinger sẽ bay đến Sài Gòn, và tối ngày 22, sẽ đến Hà Nội. Hiệp
định dự định công bố vào ngày 24 và được ký ngày 31-10-1972.
Khi
bước lên máy bay, Kissinger đã nhận được một bức thư tay của Nixon,
dặn: “Thứ nhất, anh cứ làm cái gì cho là đúng mà không cần chú ý đến bầu
cử; thứ hai, chúng ta không thể để tuột mất cơ hội kết thúc chiến tranh
trong danh dự”. Nixon cũng gửi một bức thư cho Brezhnev, nhưng theo
Kissinger, những yêu cầu của Nixon đều bị bỏ qua. Trong khi đó, tuy
không trả lời gì, “viện trợ đạn dược của Bắc Kinh cho Hà Nội đã giảm tới
mức ít ảnh hưởng tới kết quả của cuộc chiến”.
Nhưng,
kể từ ngày 14-10, khi Đại sứ Bunker chuyển bản tóm tắt Hiệp định cho
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đến ngày 18-10, khi Kissinger đến Sài Gòn,
ông Thiệu không hề trả lời. Ngày 19-10, khi đến dinh Độc Lập, Kissinger
đã phải đợi tới 15 phút, Hoàng Đức Nhã - trợ lý của Tổng thống - mới ra
đưa Đại sứ Bunker và Kissinger vào gặp ông Thiệu trao bức thư của Nixon.
Ông Thiệu hẹn 2 giờ chiều hôm sau sẽ trả lời. Vào ngày 19-10, Kissinger
nhận được phản hồi từ Lê Đức Thọ, theo ông: “Hà Nội đồng ý không chỉ
với lập trường của chúng tôi mà còn cả với câu chữ do chúng tôi đề ra:
Với việc ngừng bắn, tất cả tù nhân sẽ được trả tự do, trừ 10 nghìn cán
bộ Việt Cộng trong nhà tù miền Nam Việt Nam”.
Trong
khi đó, không có cuộc điện thoại nào từ văn phòng Tổng thống Thiệu gọi
cho Đại sứ Bunker để xác nhận cuộc hẹn. Mãi tới 2 giờ 30 phút, Bunker
mới nhận được điện thoại của ông Nhã báo là cuộc họp phải lùi tới 5 giờ.
Năm giờ, đoàn xe hộ tống của Thiệu đi ngang qua sứ quán Mỹ hụ còi hết
cỡ và bỏ mặc Bunker giận dữ, không một lời xin lỗi. Đêm hôm đó, Hoàng
Đức Nhã mới báo với Bunker, Tổng thống sẽ làm việc với họ vào 8 giờ sáng
hôm sau. Cuộc gặp vào 9 giờ sáng 20-10, theo Kissinger, là chỉ để nghe
“cơn thịnh nộ” của ông Thiệu. Trong khi Kissinger cảm thấy bế tắc với
Sài Gòn thì ông nhận được tin vào tối 21-10 từ Hà Nội, theo đó, các yêu
cầu của Mỹ về các vấn đề liên quan đến Lào và Campuchia đều được chấp
nhận.
Kissinger
đang không biết sẽ ăn nói như thế nào với ông Lê Đức Thọ thì Hà Nội mời
nhà báo nổi tiếng, Arnaud De Borchgrave, đến Việt Nam và được thu xếp
để ông phỏng vấn Thủ tướng Phạm Văn Đồng(645). Kissinger cho rằng: “Hà
Nội đã phạm phải sai lầm khi đưa ra cớ để (cho Washington) trì hoãn”.
Một
bức điện, nhân danh Tổng thống Nixon được gửi tới phái đoàn của Hà Nội ở
Paris cho rằng, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phá vỡ lòng tin và làm nảy
sinh trách nhiệm đáng kể cho những mối quan hệ ở Sài Gòn khi cho Arnaud
De Borchgrave vào phỏng vấn. Bức thư nhấn mạnh rằng phía Mỹ không thể
hành động một cách đơn phương; những khó khăn ở Sài Gòn cho thấy sự việc
diễn biến phức tạp hơn dự đoán; trong hoàn cảnh đó, Tổng thống đã phải
triệu tiến sỹ Kissinger về Washington để cố vấn những bước đi tiếp theo.
Kissinger
“doạ” Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nếu chiến sự còn tiếp diễn kiểu này
trong 6 tháng nữa Thượng viện sẽ quyết định cắt viện trợ. Nhưng ông
Thiệu với sự cố vấn của Hoàng Đức Nhã vẫn không lay chuyển. Trong khi
đó, Hà Nội cáo buộc Washington “không thực sự nghiêm chỉnh” và cảnh cáo
rằng “cuộc chiến ở Việt Nam sẽ tiếp diễn và phía Hoa Kỳ phải chịu tất cả
trách nhiệm”. Mặc dù trong bức điện gửi tới Paris vài ngày trước, Nixon
đã đề nghị hai bên chưa công bố những điều trong dự thảo Hiệp định,
nhưng ngày 26-10-1972, Đài Tiếng nói Việt Nam đã cho công bố bản dự thảo
này.
Ngày
27-10, người phát ngôn của miền Bắc tại Paris, ông Nguyễn Thành Lê, nói
với báo giới: “Nếu như ngày ký là ngày 31, và vào ngày 30 nếu Kissinger
muốn gặp Lê Đức Thọ hoặc Xuân Thuỷ để uống sâm banh trong khi chờ đợi
việc ký kết, tôi nghĩ rằng sự hưởng ứng sẽ rất tích cực”. Nhưng phía Mỹ
lại đề nghị có một cuộc đàm phán cuối cùng và hứa ngừng ném bom hoàn
toàn trong vòng 48 giờ sau khi có một giải pháp. Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu đã phản đối “bằng giọng văn bực tức của Nhã”.
Nixon
viết thư cho Thiệu: “Nếu như tình trạng bất đồng giữa hai chúng ta tiếp
tục tiếp diễn theo một chiều hướng khác, thì những ủng hộ cần thiết của
phía Mỹ đối với ngài và với chính phủ của ngài sẽ không còn nữa. Ngài
không nên nuôi ảo tưởng rằng chính sách của tôi liên quan đến ước muốn
đạt được hiệp định hoà bình một cách sớm sủa sẽ thay đổi sau khi cuộc
bầu cử diễn ra”. Như Nixon dự đoán, cho dù Hiệp định Paris chưa ký, ông
vẫn tái đắc cử Tổng thống với số phiếu hơn 60% vào ngày 7-11-1972.
Vài
cuộc họp giữa Kissinger và Lê Đức Thọ đã được nối lại vào nửa cuối
tháng 11-1972. Nếu như Chính phủ Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam chỉ
là cái bóng của miền Bắc, và bà Nguyễn Thị Bình chỉ tuyên bố theo chỉ
thị của Hà Nội như bà thừa nhận, thì Việt Nam Cộng hoà là một thực thể
chính trị mà người Mỹ không dễ khuất phục.
Do
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phản đối, Kissinger phải đưa ra 69 đề nghị
mới của Việt Nam Cộng hoà. Trong đó có những đòi hỏi mà Hà Nội không thể
nào chấp nhận: Đòi xoá bỏ tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà
miền Nam Việt Nam ghi trong Hiệp định; đòi rút tất cả lực lượng không
phải Nam Việt Nam ra khỏi miền Nam. Chính Kissinger cũng thừa nhận đó là
những đòi hỏi vô lý - để tăng thêm sức phản kich, Lê Đức Thọ đòi lập
hội đồng ba thành phần 15 ngày sau ngừng bắn, đòi tổng tuyển cử ở miền
Nam 6 thàng, đòi Thiệu phải từ chức hai tháng trước tuyển cử.
Cho
dù xác nhận sự đồng ý của Sài Gòn sẽ ảnh hưởng rất lớn tới Hiệp định,
Kissinger vẫn chấp nhận đưa ra khỏi Hiệp định điều kiện “rút quân đội
không phải của Nam Việt Nam ra khỏi miền Nam”; có giải pháp thoả đáng
xác nhận vị trí của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt
Nam… nhưng Lê Đức Thọ thấy Mỹ vân đòi sửa đổi nhiều với ta, nên lại phê
phán Mỹ lại có ý đồ chia cắt Việt Nam, kéo dài đàm phán”(646).
Theo
Kissinger: “Tổng thống rất thất vọng về tinh thần cũng như thực chất
của cuộc họp cuối cùng với Lê Đức Thọ”. Nixon gửi điện cho Kissinger:
“Nếu đối phương không thể hiện thiện chí phù hợp tương tự như chúng ta
đang thể hiện, tôi chỉ thị cho anh phải ngừng đàm phán và rồi chúng ta
sẽ nối lại các hoạt động quân sự cho đến khi đối phương sẵn sàng đàm
phán. Phải làm cho họ tỉnh ngộ trước ý nghĩ cho rằng dường như chúng ta
không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc giải quyết theo hướng những
điều khoản mà họ đưa ra”.
Ngày
23-11, sau cuộc đàm phán dài 6 tiếng đồng hồ, nhân dịp lễ tạ ơn, đoàn
miền Bắc mời đoàn Mỹ dùng một bữa trưa thịnh soạn với thịt bò và thịt gà
nướng. Ngay trong bữa ăn, Kissinger viết: “Tôi đưa ra hai lựa chọn cho
Tổng thống: hoặc chấm dứt đàm phán và ném bom trở lại miền Bắc từ vỹ
tuyến 20 trở lại (trên thực tế, trước đó 24 giờ tổng thống đã yêu cầu
tôi đặt vấn đề đó cho ông Lê Đức Thọ suy nghĩ); hoặc có giải pháp cho
những vấn đề nêu trong bản dự thảo cụ thể là các điều khoản về khu phi
quân sự và vũ khí kèm theo một số thay đổi trong phần về chính trị như
là việc giữ thể diện cho chính quyền Sài Gòn”(647).
Giáng Sinh B52
Các
cuộc đàm phán được đôi bên thoả thuận là sẽ nối lại. Trong bức điện gửi
tới Hà Nội vào ngày 27-11, Washington cho biết là Tổng thống ra lệnh
giảm 25% các đợt ném bom. Theo Kissinger: “Đó là một sai lầm. Có vẻ như
Bắc Việt Nam xem hành động đó như thể là chúng tôi buộc phải làm do yếu
thế” .
Kissinger
nói Nixon đã muốn ra lệnh tấn công bằng B-52 xuống Hà Nội-Hải Phòng
ngay trước khi các cuộc đàm phán được bắt đầu lại vào ngày 6-12. Trong
cuộc gặp vào ngày 7-12, theo Kissinger: “Chúng tôi bị dồn vào chân tường
một cách tuyệt vọng. Điều mà Lê Đức Thọ muốn ở chúng tôi là tiến tới
hiệp định, đủ gần để ngăn ngừa chúng tôi sử dụng sức mạnh quân sự, nhưng
cũng đủ xa để duy trì sức ép sao cho vào những phút cuối có thể hoàn
thành những mục tiêu của Hà Nội trong việc làm tan vỡ cấu trúc chính trị
của Sài Gòn”.
Trên
thực tế, theo ông Lưu Văn Lợi, những tranh chấp còn lại là không quan
trọng, phần lớn thuộc về kỹ thuật hoặc về cách dùng từ khác nhau do dịch
ra tiếng Anh, tiếng Việt. Theo người phiên dịch của ông Lê Đức Thọ, ông
Nguyễn Đình Phương: “Đến ngày 13-12-1972, chỉ còn hai vấn đề tồn tại
(khu phi quân sự và cách ký Hiệp định), hai bên quyết định về nước hỏi ý
kiến chính phủ, trong khi các chuyên viên tiếp tục rà soát lại văn bản.
Ngày 15-12-1972 anh Sáu rời Pari”(648).
Kissinger
cho rằng: “Nếu hồi tháng mươi Hà Nội chịu đưa ra một hoặc hai đề nghị
thoả hiệp về khu phi quân sự hay kỹ thuật viên quân sự thì Nixon có lẽ
đã chấp nhận. ông không hào hứng với việc ném bom trở lại. Ông đã trải
qua nỗi kinh hoàng khi xuất hiện trên truyền hình để thông báo bắt đầu
một nhiệm kỳ mới với việc một lần nữa mở rộng chiến tranh… Nhưng Hà Nội
đã trở nên quá tự tin. Được khuyến khích bởi sự bất đồng công khai giữa
Washington và Sài Gòn, thêm vào đó, Quốc hội mới sẽ cắt ngân sách vào
tháng Giêng tới, Bắc Việt Nam nghĩ rằng họ có thể buộc chúng ta nhượng
bộ và làm Sài Gòn mất tinh thần. Bắc Việt Nam đã phạm một lỗi căn bản
khi thương lượng với Nixon, họ đã dồn ông vào chân tường. Nixon nguy
hiểm hơn bao giờ hết khi ông dường như không còn lựa chọn”.
Ngày
14-12-1972, từ Paris, Kissinger trở lại phòng Oval, nơi các cộng sự và
ông trở nên “diều hâu” hơn. Trong cuộc họp đó Nixon quyết định “ném bom
dày đặc và lần đầu tiên sử dụng liên tục B-52 trên miền Bắc”. Ngày
16-12, Đại sứ W. Porter, Trưởng đoàn Đàm phán của Mỹ tại Paris, đã gặp
ông Xuân Thuỷ. Theo Kissinger, ông Xuân Thuỷ “đã đẩy sự kiêu căng của Lê
Đức Thọ lên một mức nữa. Thay vì dừng lại ở những vấn đề cụ thể, ông đã
lịch sự từ chối thảo luận về bất cứ vấn đề gì”. Cùng ngày, tại phòng
Báo chí của Nhà Trắng, Kissinger giải thích về các cuộc đàm phán đang bế
tắc.
Sáng
18-12, Kissinger gửi thông điệp cho Hà Nội, một mặt, buộc tội miền Bắc
đã cố ý trì hoãn đàm phán, mặt khác đề xuất nối lại đàm phán bằng cách
quay lại các thoả thuận đã đạt được vào cuối vòng đàm phán đầu tiên được
nối lại ngày 23 tháng 11, bao gồm cả những thay đổi mà Lê Đức Thọ đã
đồng ý. Kissinger ngỏ ý sẽ gặp Lê Đức Thọ bất kỳ lúc nào sau ngày 26-12.
Tướng Giáp gọi đây là một “tối hậu thư”.
Cũng
trong chiều 18-12-1972, vào lúc 4 giờ 45 phút giờ Hà Nội, chiếc chuyên
cơ vốn sử dụng để chở Hồ Chí Minh mang ký hiệu BH195 đưa Lê Đức Thọ từ
Hội nghị Paris về tới sân bay Gia Lâm. Hơn hai giờ đồng hồ sau, khi Lê
Đức Thọ đang ở trong nhà tắm, tướng Giáp nhận được điện thoại Trực ban
báo tin có nhiều tốp B52 bắt đầu rời Guam và Utapao. Liền đó là những
hồi còi báo động phá vỡ sự tĩnh lặng đợi chờ của Hà Nội. Ngay trong đêm
hôm đó, tất cả các sân bay quân sự xung quanh Hà Nội như Kép, Phúc Yên,
Hoà Lạc… đều bị phá huỷ. Chiếc chuyên cơ BH 195 đậu ở Gia Lâm cũng bị
bom B52 phá hỏng hoàn toàn. Đài tiếng nói Việt Nam bị ném bom.
Theo
tướng Giáp, vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 18-12-1972, ông nhận được tin 4
phút trước đó, Tiểu đoàn tên lửa 59 đã bắn cháy chiếc B52 đầu tiên, xác
chiếc B52G này rơi xuống xã Phù Lỗ, Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Tướng
Giáp mô tả: “Tin thắng trận xé toang bầu không khí căng thẳng. Tổng
Hành dinh náo nức được thấy con ngoáo ộp B52 không còn ‘bất khả xâm phạm
nữa’ trước những con ‘rồng lửa Thăng Long”(649). Lúc 4 giờ 39 phút sáng
hôm sau, 19-12-1973, Tiểu đoàn tên lửa 77 bắn rơi chiếc máy bay thứ
hai. Mỹ bắt đầu sử dụng B52 trong chiến tranh Việt Nam từ giữa năm 1965.
Phi vụ B52 đầu tiên ném bom miền Bắc diễn ra ngày 12-4-1966 ở đèo Mụ
Giạ, Quảng Bình. Tháng 5-1966, Trung đoàn tên lửa 238 được điều vào Vĩnh
Linh để nghiên cứu đánh B52 và theo tướng Giáp, 238 đã bắn rơi chiếc
B52 đầu tiên vào ngày 17-9-1967.
Chiếc
B52 thứ hai, theo công bố của Bộ Quốc phòng Việt Nam, bị dính tên lửa
của Trung đoàn 263 ở Nghệ An, và sau đó rơi xuống đất Nakhomphanom ngày
22-11-1972, cách Utapao 64 km. Đây cũng là chiếc B52 đầu tiên mà người
Mỹ công nhận có tổn thất. Theo tướng Giáp: Từ năm 1969, Liên Xô không
viện trợ thêm một quả tên lửa nào(650); khí tài cũng xuống cấp, buộc bộ
đội phòng không phải cải tiến rất nhiều mới đánh được. Đêm 20-12-1972,
bộ đội tên lửa hạ thêm “7 máy bay B52, 7 máy bay chiến thuật và một máy
bay không người lái”. Hà Nội càng tự tin.
Nhưng
tướng Giáp không chỉ nhận được “tin chiến thắng”. Vào thời điểm ấy, ở
khu vực Đông Nam Á, người Mỹ có tới 207 chiếc B-52 đang ở tư thế sẵn
sàng ném bom: 54 B-52D đậu ở U-Tapao RTAFB, Thailand; trong khi 153
chiếc khác gồm 55 B-52D và 98 B-52G đang ở căn cứ không quân Andersen ở
Guam.
Đêm
18-12-1972, Mỹ sử dụng tới 129 máy bay ném bom, được hộ tống bởi các
máy bay chiến đấu F-4, F-105, máy bay đánh chặn tên lửa SAM, máy bay làm
nhiễu sóng rada… Người Mỹ quả đã chịu tổn thất nặng nề khi ngay trong
phi vụ đầu tiên, ba máy bay bị bắn rơi ngay bởi 68 quả tên lửa SAM: hai
B-52G và một B-52D. Hai B-52D khác bị trúng đạn hư hỏng nặng phải đưa về
sửa tại U-Tapao. Cũng trong đêm đó, một chiếc F-111 bị bắn hạ.
Trong
đêm thứ hai, 93 chiếc B-52 khác lại được đưa tới vùng trời miền Bắc,
các cơ sở công nghiệp ở Thái Nguyên, Yên Viên và ga Kim Nỗ (Đông Anh)
trở thành mục tiêu và nhanh chóng bị phá huỷ. Hàng chục tên lửa SAM được
bắn lên nhưng chỉ làm hư hỏng một số máy bay. Các mục tiêu khác ở Yên
Viên, Ái Mỗ, Thái Nguyên, Bắc Giang và Hà Nội, tiếp tục bị B-52 cày nát
trong đêm thứ ba, ngày 20-12-1972, nhưng 4 B-52 đã bị bắn hạ với khoảng
trên 30 quả tên lửa SAM trong đó có một chiếc đã rơi tại Lào trên đường
bay về Thailand. Ngày 20-12, tại Paris, trong cuộc gặp đại diện Mỹ,
Heyward Isham, ông Nguyễn Cơ Thạch đã mạnh mẽ phản đối hành động của
Nixon.
Những
tổn thất này đã khiến cho Ban tham mưu liên quân và Bộ tư lệnh Thái
Bình Dương của Mỹ nao núng. Có những tiếng nói muốn dừng cuộc “tàn sát”
lại. Nhưng Nixon ra lệnh cho Đô đốc Moorer tiếp tục cường độ oanh tạc và
bắt vị tham mưu trưởng liên quân này phải đích thân chịu trách nhiệm về
kết quả của chiến dịch oanh tạc.
Đêm
thứ Tư, 21-12-1972, 30 B-52 từ U-Tapao vẫn được đưa vào vùng trời Hà
Nội. Nhiều mục tiêu khác lại bị phá huỷ trong đó có kho Văn Điển và sân
bay Quảng Tế. Nhưng, thêm hai B-52 bị bắn hạ bởi SAM. Tên lửa SAM dường
như chỉ có thể tập trung bảo vệ vùng trời Hà Nội. Những ngày sau đó, các
cuộc oanh kích chuyển sang đánh phá Hải Phòng. Không có một chiếc máy
bay nào bị bắn hạ thêm ở đây ngoại trừ một chiếc F-111 bị bắn rơi trên
bầu trời Kim Nỗ.
Ngày
22-12, Mỹ đề xuất một cuộc gặp giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Tiến
sĩ Kissinger vào ngày 3-1-1973. Nếu Hà Nội đồng ý những điều khoản do
phía Mỹ đưa ra, việc ném bom từ vĩ tuyến 20 sẽ chấm dứt vào nửa đêm ngày
31-12. Nhưng ngày 23-12, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch lại đọc
một bài phản đối khác.
Đêm
21 rạng 22-12-1975, một cuộc ném bom được nói là nhắm vào sân bay Bạch
Mai và căn cứ Bộ chỉ huy của lực lượng không quân Bắc Việt Nam, nhưng
toàn bộ lượng bom trên một chiếc B-52 đã rơi vào bệnh viện Bạch Mai và
khu dân cách đó hơn một cây số. Ngày 23-12-1975 và các ngày sau đó, các
oanh tạc cơ tiếp tục chiến thuật tránh Hà Nội để bảo toàn lực lượng. Cho
đến đêm 26-12-1972, 120 máy bay ném bom gần như đồng thời oanh tạc khu
vực Thái Nguyên, Hà Nội và cả Hải Phòng: 78 B-52 bay từ căn cứ Andersen;
42 chiếc khác bay từ U-Tapao, theo sau chúng là 113 máy bay hộ tống các
loại, cùng lúc tràn ngập vùng trời miền Bắc.
Khoảng
250 tên lửa SAM đã được bắn. Một B-52 bị bắn hạ gần Hà Nội, một chiếc
khác bị bắn hỏng cố bay về U-Tapao nhưng đã bị rơi ngay gần đường băng.
Tướng Giáp kể: “Có lúc căn hầm kiên cố của Tổng Hành dinh rung chuyển
như động đất”. Đêm ấy, vào lúc 22 giờ 47 phút, B52 đã rải bom xuống Khâm
Thiên và hơn 100 điểm dân cư ở Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác trên
miền Bắc.
Trong
ngày 26-12-1972, ngày mà lượng bom B52 được thả xuống miền Bắc ác liệt
nhất, Kissinger nhận được “thông điệp” từ Lê Đức Thọ. Tuy bác bỏ “ngôn
ngữ tối hậu thư” của Washington nhưng Hà Nội đã đồng ý với các điều
khoản đưa ra từ phía Mỹ: nếu Mỹ ngừng ném bom, các cuộc họp cấp chuyên
gia có thể nối lại trong khoảng thời gian sớm nhất; vì lý do sức khỏe Lê
Đức Thọ không thể tham dự cuộc họp nào trước ngày 8 tháng Giêng.
Ngày
27-12, Mỹ đồng ý nối lại các cuộc gặp cấp chuyên gia vào ngày 2-1-1973;
Lê Đức Thọ và Kissinger sẽ gặp nhau ngày 8-1; Mỹ sẽ ngừng ném bom trong
vòng 36 giờ khi nhận được lời khẳng định cuối cùng về các bước thủ tục
này. Theo Kissinger: “Hà Nội trả lời ngay trong vòng 24 tiếng - một kỳ
tích về thời gian cần thiết để chuyển tin từ Paris; chuyển đến Paris và
sự khác nhau về múi giờ”. Kissinger nói: “Chúng tôi đã thắng cược”(651).
B-52
tiếp tục oanh tạc cho tới đêm 29-12-1972. Trong suốt “12 ngày đêm” ấy,
người Mỹ đã huy động 741 lượt B-52 ném bom miền Bắc Việt Nam, 729 phi vụ
được coi là thành công, 15.237 tấn bom đã được dội xuống 18 mục tiêu
kinh tế và 14 mục tiêu quân sự; các loại phi cơ khác cũng đã dội xuống
đầu người dân Việt Nam thêm 5.000 bom. Cũng trong thời gian đó, 212 phi
vụ B-52 đánh phá các căn cứ Quân Giải phóng miền Nam. Mười máy bay B-52
bị bắn hạ trên vùng trời Việt Nam, 5 chiếc khác bị bắn hỏng sau đó bị
rơi ở Lào và Thái Lan.
Những
hình ảnh tang thương, đặc biệt là cảnh huỷ diệt khu dân cư Khâm Thiên
và bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội đã làm cho thế giới giận dữ. Nixon bị
nguyền rủa từ trong nước cho tới khắp nơi trên thế giới. Chính phủ Thuỵ
Điển so sánh chính quyền Nixon với bọn phát xít. Chính phủ Đan Mạch,
Phần Lan, Hà Lan và Bỉ cũng lên án các vụ ném bom. B52 đã giết chết hơn
1.600 thường dân Việt Nam trong khi cả hai phía đều tuyên bố là chiến
thắng.
Đêm
28-12-1972, tướng Giáp duyệt bản Thông cáo Chiến thắng do Cục Tuyên
huấn dự thảo, theo đó: “Chỉ trong 12 ngày đêm, quân và dân ta đã bắn rơi
77 máy bay hiện đại, trong đó có 33 máy bay B52; 5 F111; 24 phản lực; 3
máy bay trinh sát; 1 máy bay lên thẳng; tiêu diệt và bắt sống hàng trăm
giặc lái Mỹ”(652). Sáng 29-12-1972, các đài báo cho phát bản Thông cáo
nói trên và Báo Quân Đội Nhân Dân đăng xã luận gọi “chiến công vĩ đại”
này là “trận Điện Biên Phủ trên không”.
Tướng
Giáp cho rằng chiến thắng B52 đã làm cho “hy vọng thương lượng trên thế
mạnh của Mỹ sụp đổ theo”(653). Ông dẫn chứng bằng bức thư Nixon gửi cho
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thúc ép phải ký Hiệp định Paris. Tuy nhiên,
bức thư mà tướng Giáp trích dẫn trong cuốn sách của ông đã được Nixon
viết một ngày trước khi cuộc ném bom Hà Nội diễn ra.
Hiệp định Paris 1973
Việc
Nixon thúc ép Sài Gòn chấp nhận bản Hiệp định của Kissinger diễn ra từ
nửa cuối tháng 10-1972. Trong bức thư do tướng Haig mang tới Sài Gòn vào
ngày 19-12-1972 này, theo Kissinger, đích thân Nixon viết thêm vào cuối
thư: “Cho phép tôi nhấn mạnh lần cuối rằng tướng Haig không đến Sài Gòn
để thương lượng với Ngài. Đã đến lúc chúng ta cần thể hiện sự đoàn kết
trong đàm phán với kẻ thù của chúng ta, và bây giờ Ngài cần phải quyết
định xem Ngài muốn tiếp tục giữ mối quan hệ đồng minh của chúng ta hay
Ngài muốn tôi tìm kiếm một giải pháp với kẻ thù chỉ để phục vụ lợi ích
của Mỹ mà thôi”(654).
Thái
độ can đảm của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã làm cho những sứ giả của
Nixon khâm phục. Ngày 20-12-1972, ông Thiệu mới trao cho Haig bức thư mà
Kissinger coi như “một lời từ chối đề nghị của Nixon”. Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu rút lại sự phản đối đối với các điều khoản chính trị,
nhưng không chấp nhận các lực lượng Bắc Việt Nam tiếp tục có mặt ở miền
Nam. Sự “can đảm” đã khiến ông phải trả giá. Ngày 2-1-1973, trong một
cuộc họp kín, với tỷ lệ 154/75, khối nghị sĩ Dân Chủ tại Hạ viện đã
thông qua việc cắt toàn bộ quỹ dành cho hoạt động quân sự ở Đông Dương;
tỷ lệ này trong nhóm nghị sĩ Dân chủ tại Thượng viện là 36/12.
Ngày
8-1-1973, khi Kissinger gặp Lê Đức Thọ ở Gif-sur-yvette, các nhà báo có
mặt khắp nơi, theo mô tả của Kissinger: “Lê Đức Thọ luôn từ chối bắt
tay tôi trước mặt công chúng. Bề ngoài, có vẻ không có người Việt Nam
nào mở cửa chào đón tôi. Cánh cửa đàm phán chỉ đơn giản được mở bởi một
người nào đó bên trong. Điều đó đã tạo ra nhiều câu chuyện trên các
phương tiện truyền thông về một không khí lạnh nhạt sau các cuộc ném bom
của chúng ta. Trên thực tế, mối quan hệ bên trong, ngoài con mắt theo
dõi của báo giới, lại khá tốt đẹp. Tất cả người Bắc Việt đều xếp hàng
chào đón chúng tôi. Lê Đức Thọ rất nhanh nhẹn, hệt như phong cách một
doanh nhân trong ngày đầu tiên, đẩy mạnh sự thân mật đó khi chúng tôi
bắt đầu đạt tới thoả hiệp”.
Ngày
9-1-1973, Lê Đức Thọ chấp nhận đề xuất ngày 18-12-1973 của phía Mỹ.
Kissinger viết: “Ông ta đồng ý với bản thảo khi nó giữ đúng với lập
trường ngày 23-11-1973 tại cuối phiên họp đầu tiên sau bầu cử, trong đó
có cả 12 điểm thay đổi ông ta đã thừa nhận. ông ta đồng ý việc chúng tôi
thành lập khu vực phi quân sự, điều mà vào tháng 12-1972, ông ta đã
cứng rắn bác bỏ”. Ngày 13-1-1973, các nhà đàm phán Mỹ và Việt Nam ngồi
xen kẽ với nhau, ăn cơm; Lê Đức Thọ và Kissinger nâng cốc.
Tướng
Haig được phái đi Sài Gòn vào tối hôm sau, 14-1 với tối hậu thư nhấn
mạnh Mỹ sẽ ký Hiệp định mà không có Thiệu nếu cần thiết. Nhưng Kissinger
viết: “Chúng tôi vẫn không nhận được sự đồng ý của con người nhỏ bé
nhưng gan góc ở Sài Gòn - Tổng thống Thiệu. Nixon quyết định thuyết
phục”. Mãi cho đến ngày 20-1-1973, sau khi có thêm áp lực của hai thượng
nghị sỹ từng ủng hộ Sài Gòn, ông Thiệu mới đồng ý ký vào Hiệp định.
Ngày
15-1-1973, Nhà Trắng tuyên bố ngừng ném bom. Ngày 23-1, Kissinger và Lê
Đức Thọ gặp lại ở Paris để “hoàn tất Hiệp định”. Cuộc họp bắt đầu lúc 9
giờ 35 phút, ông Lê Đức Thọ đưa ra “điều khoản cuối cùng”, yêu cầu phía
Mỹ đảm bảo một cách chắc chắn về việc sẽ viện trợ kinh tế cho miền Bắc.
Kissinger cho rằng điều đó chỉ được thảo luận thêm khi Hiệp định đã
được ký kết. Lúc 12 giờ 45 phút ngày 23-1-1973, cả hai ký tắt vào các
văn bản rồi rời phòng họp, ra ngoài bắt tay nhau trước ống kính phóng
viên.
Ngày
27-1-1973, Hiệp định Chấm dứt Chiến tranh Việt Nam chính thức được 4
bên ký kết ở Paris. Nhưng hoà bình đã không thực sự diễn ra sau đó.
HẾT
______________________
Tác giả
Huy Đức - Trương Huy San sinh năm 1962 tại Hà Tĩnh nhập ngũ tháng 3-1979
học viên trường Sỹ quan Hoá Học (1980-1983)
chuyên gia quân sự ở Campuchia (1984-1987)
phóng viên báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, và Sài Gòn Tiếp Thị (1988-2009)
blogger của trang Osinblog (2006-2010)
Humphrey
Fellow về phân tích chính sách tại Đại học Maryland (2005-2006) Nieman
Fellow về phân tích chính trị tại Đại học Harvard (2012-2013)
Chú thích
(630) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 55.
(631) Henry Kissingger, sách dã dẫn, trang 64.
(632) Henry Kissingger, sách dã dẫn, trang 91.
(633)
Theo Kissinger: “Washington trông chẳng khắc gì một thành phố bị bao
vây. Các cuộc phản đối ồ ạt của công chúng lên đến đỉnh điểm vào ngày
9-5, khi một đám đông ước tính khoảng 75.000 đến 100.000 người đã tập
trung lại để phản đối trước vườn hoa Ellipse, ở phía Nam Nhà Trắng. Cảnh
sát phải đứng làm hàng rào; một dãy 60 xe buýt được huy động để bảo vệ
nơi ở của Tổng thống. Có khoảng 250 nhân viên Bộ ngoại giao, trong đó có
50 sỹ quan quân đội từng phục vụ ở nước ngoài, đã ký vào một tuyên bố
phản đối chính sách của chính phủ. Một nhóm nhân viên đã chiếm toà nhà
của Peace Corps và treo cờ của Việt Cộng lên. Bên ngoài Tổng thống tỏ vẽ
bàng quan, nhưng thực ra ông bị tổn thương sâu sắc bởi sự thù ghét của
những người phản đối chiến tranh. Tất cả chúng tôi đều bị kiệt sức. Tôi
đã phải rời căn hộ của mình, nơi suốt ngày bị những người phản đối réo
chuông, sang tầng hầm của Nhà Trắng để ngủ” (Kissingger, Ending the
Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 169)
(634) Cuộc chiến sẽ được báo chí miền Bắc nói tới với tên gọi: “Chiến thắng Đường 9 Nam Lào”.
(635) Nói chuyện với các tướng lĩnh làm Tổng kết Chiến tranh ngày 9-2-1999.
(636)
Theo tướng Lê Phi Long: “Có 2 phòng làm việc tại cửa hầm bê tông của sở
chỉ huy, một cho chúng tôi và một dành cho Đại tướng Tổng tư lệnh. Đại
tướng thường làm việc tại đây để sát với chúng tôi hơn. Phòng làm việc
của ông cũng rất đơn giản, chỉ có một chiếc bàn làm việc lớn, có trải
sẵn bản đồ, mấy chiếc ghế mây, vài cái điện thoại và một chiếc máy ghi
âm do Hungary sản xuất cùng một chiếc điện thoại mật do cục cơ yếu cải
tiến mà chúng tôi gọi đùa là ‘thử kêu đốt tịt’. Thậm chí cái quạt cũng
chẳng có. Mùa viêm nhiệt tới, ban đêm muỗi vo ve suốt, có khi Tổng Tư
lệnh phải xếp bằng, ngồi lên mặt bàn mới làm việc được. Sau này tướng
Trần Sâm, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu, không biết kiếm ở đâu được một chiếc
quạt cũ nhãn hiệu Marelli của Pháp. Từ đó, Đại tướng ít bị muỗi cắn
hơn”.
(637) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 230
(638)
Theo tướng Lê Phi Long: Bộ Tổng Tham mưu chủ trương vây chặt Đông Hà,
tập trung lực lượng đánh vu hồi xuống chiếm La Vang, Ái Tử, cầu Quảng
Trị. Còn ở tiền tuyến, Bộ Tư lệnh Chiến dịch lại muốn tiếp tục tập trung
lực lượng đột phá cụm Đông Hà. Điện trao đi đổi lại nhiều lần vẫn chưa
nhất trí với nhau. Ngày 12-4 tướng Giáp triệu tập Bùi Công Ái, phái viên
Cục tác chiến về bộ báo cáo tình hình; ngày 18-4 Bộ Tư lệnh Chiến dịch
cử hai sỹ quan khác ra cấp tốc báo cáo. Sáng 19-4, Thường trực Quân uỷ
họp, có thêm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn. Kế hoạch của Bộ Tổng
Tham mưu do tướng Văn Tiến Dũng đệ trình đã được lựa chọn. Đại tướng Võ
Nguyên Giáp ký Điện gửi Tư lệnh Chiến dịch: “Tập trung lực lượng diệt
Đông Hà, Ái Tử rồi phát triển nhanh. Tăng thêm lực lượng cho cánh vu hồi
từ phía Tây”.
(639)
Theo Lưu Văn Lợi, người phiên dịch cho Lê Đức Thọ: “Hôm đo người ta
không thấy ở Kissinger - một giao sư Đại học sôi nôi nói dai dong hay
bông đua, ma là một người ít nói có ve ngương nghiu, suy nghĩ. Con Lê
Đưc Thọ đa được nhưng tin đầu tiên thăng lợi ở Quang Tri, đia đâu của
miền Nam đang nong long chơ kết qua cụ thể ở vung đất miền Trung cung
như ở nhiều nơi khác”(Những cuộc tiếp xúc bí mật Kissinger - Lê Đức Thọ,
trang 431).
(640)
tướng Lê Phi Long kể: “Ở ngầm Phương Thuý, Công binh Bộ chở vào 34
khoang thuyền để bắc cầu quân sự thì bị bắn, phá huỷ hoàn toàn. Mấy đại
đội cao xạ bảo vệ ngầm cũng thương vong gần hết. Có 01 lữ đoàn pháo binh
cơ động ra phía trước bị máy bay phát hiện và oanh tạc, hầu như bị phá
huỷ hoàn toàn. Mặc dầu vậy, ngày 2-6, Bộ Tư lệnh đã quyết định nổ súng
vào ngày 20-6. Nhưng, chỉ sau 6 ngày tấn công đợt 3, các hướng của ta
đều bị chặn lại. Sức chiến đấu của bộ đội giảm sút rõ rệt. Trong khi đó,
địch tăng thêm lực lượng tổng dự bị chuẩn bị cho một cuộc hành quân quy
mô lớn nhằm chiếm lại Quảng Trị”.
(641) Theo tướng Lê Phi Long.
(642)
Theo tướng Lê Phi Long: “Mãi đến bây giờ (2008), tôi và nhiều đồng
nghiệp vẫn chưa hiểu vì sao ta phải cố thủ thành cổ với một giá đắt như
vậy, ai chủ trương, ai chịu trách nhiệm trước lịch sử? Có cán bộ cấp
trên giải tích rằng do yêu cầu của đấu tranh ngoại giao, cần giữ vững
thành cổ để phối hợp với cuộc đàm phán tại hội nghị Paris. Nhưng, quyết
định chiến trường phải là người lính”.
(643)
Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ -
Kissinger tại Paris, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân 2002, trang 494-495.
(644)
Theo Kissinger: “Sau bốn năm khăng khăng đòi hỏi chúng ta dỡ bỏ thể chế
chính trị của đồng minh (Sài Gòn) và thay thế nó bằng một chính phủ
liên hiệp, Hà Nội giờ đây về cơ bản đã từ bỏ yêu cầu chính trị này.
Trong ba năm, Hà Nội nhấn mạnh rằng việc Mỹ chấm dứt viện trợ quân sự
cho chính quyền Nam Việt Nam là điều kiện tiên quyết, nay, Lê Đức Thọ bỏ
điều kiện này. ‘Thay thế vũ trang’ (viện trợ quân sự) đã được phép,
trong khi Hà Nội không đả động gì về việc rút quân (thậm chí cũng không
thừa nhận có quân đội ở Miền Nam) họ đã chấp thuận yêu cầu ngày
31-5-1971 của Hoa Kỳ là sẽ chấm dứt sự xâm nhập (đưa quân) vào Miền
Nam”(Sách đã dẫn, trang 329).
(645)
Theo Kissinger: “Cuộc phỏng vấn được in ngày 23-10-1972, mang dụng ý
xấu. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã làm sáng tỏ nội dung của bản dự thảo
hiệp định của miền Bắc Việt Nam. Thiệu được mô tả như một người bị động
trước các sự việc; ‘một liên minh chuyển tiếp 3 bên’ sẽ được hình thành;
tất cả những người bị bắt giữ trong đó có cả dân thường sẽ được trả tự
do; phía Mỹ phải bồi thường thiệt hại chiến tranh. Bài trả lời phỏng vấn
của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chắc chắn là để khiêu khích cộng hoà miền
Nam Việt Nam và để dàn xếp những điều nghi ngờ nhất. Điều này cũng khiến
chúng tôi chú ý đến sự linh hoạt gần đây của Lê Đức Thọ vốn được vận
dụng vì thấy cần thiết chứ không phải là thực tâm muốn thế” (Sách đã
dẫn, trang 361).
(646)
Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ -
Kissinger tại Paris, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân 2002, trang 572.
(647) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 392
(648) Lê Đức Thọ, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2011, trang 560.
(649) Võ Nguyên Giáp, Tổng Hành dinh trong mùa xuân Đại thắng, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2000, trang 19.
(650) Võ Nguyên Giáp, Sách đã dẫn, trang 16.
(651) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 417
(652) Võ Nguyên Giáp, Tổng Hành dinh trong mùa xuân Đại thắng, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2000, trang 37.
(653) Võ Nguyên Giáp, Sách đã dẫn, trang 38.
(654) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 418