Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2016

Một Nghị Quyết Đã Khiến Các Quốc Gia Thuộc Địa Được Trao Trả Độc Lập Mà Không Đổ Máu


Vào thập kỷ 50’s, Liên Hiệp Quốc là một cơ quan với rất nhiều quyền lực, ngay cả đối với các chính quyền cộng sản. Nhờ Nghị Quyết sau đây với sự đồng thuận tuyệt đối của Đại Hội Đồng, tất cả các thuộc địa của châu Âu, từ Á sang Phi, đã được hoàn trả quyền tự trị và độc lập. Các láng giềng của Việt Nam như Mã Lai, Indonesia, Brunei, Mayanmar…đều hưởng độc lập mà không phải gây chiến với thực dân. Riêng dân tộc Việt Nam, 6 năm trước đó, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ và đảng cộng sản đã hy sinh hơn 800 ngàn sinh mạng (có hồ sơ ghi hơn 3 triệu) để đánh Pháp dành độc lập. Có lẽ mình không biết kiên nhẫn như Mã Lai hay Indonesia?

united nations
Toàn văn:
TUYÊN BỐ VỀ TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO CÁC NƯỚC VÀ CÁC DÂN TỘC THUỘC ĐỊA, 1960.
(Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) ngày 1/4/1960 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc).
Đại Hội đồng,
Lưu ý đến quyết tâm đã được các dân tộc trên thế giới tuyên bố trong Hiến chương Liên Hợp Quốc nhằm tái khẳng định sự tin tưởng vào các quyền cơ bản của con người, nhân phẩm và giá trị của con người, quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ, đồng thời nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội và các tiêu chuẩn sống tốt đẹp hơn với sự tự do rộng rãi hơn;
Nhận thức sự cần thiết của việc tạo ra các điều kiện cho ổn định và phồn vinh cũng như mối quan hệ hòa bình và hữu nghị trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và sự tôn trọng rộng rãi và tuân thủ quyền con người và những tự do cơ bản dành cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo;
Thừa nhận sự khao khát cháy bỏng về tự do của các dân tộc phụ thuộc vào vai trò quyết định của các dân tộc đó trong việc giành được nền độc lập của họ;
Nhận thức rõ những xung đột đang tăng lên do sự chối bỏ hoặc những cản trở đối với con đường đến với tự do của các dân tộc này, đang gây ra sự đe dọa nghiêm trọng cho hòa bình thế giới;
Xét vai trò quan trọng của Hiến chương Liên Hợp Quốc trong việc trợ giúp phong trào độc lập tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản;
Thừa nhận rằng, các dân tộc trên thế giới mong muốn mạnh mẽ việc chấm dứt chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức biểu hiện của nó;
Tin tưởng rằng, sự tiếp tục tồn tại của chủ nghĩa thực dân sẽ ngăn cản sự phát triển của hợp tác kinh tế quốc tế, gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của các dân tộc phụ thuộc và cản trở ý tưởng của Liên Hợp Quốc về một nền hòa bình cho toàn thế giới;
Khẳng định rằng, các dân tộc có thể, vì các mục đích của chính mình, tự do định đoạt nguồn của cải và tài nguyên thiên nhiên mà không làm ảnh hưởng đến bất kỳ trách nhiệm nào phát sinh từ việc hợp tác kinh tế quốc tế, trên cơ sở nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và pháp luật quốc tế;
Tin tưởng rằng, tiến trình giải phóng là không thể thể cưỡng lại được và rằng để tránh những khủng hoảng nghiêm trọng, chủ nghĩa thực dân và tất cả những sự ngăn cách và phân biệt đối xử đi kèm theo nó phải bị kết thúc;
Hoan nghênh sự xuất hiện trong những năm gần đây của một số lượng lớn các lãnh thổ phụ thuộc trở thành tự do và độc lập, và thừa nhận những xu hướng mạnh mẽ đang tăng lên đối với tự do ở những lãnh thổ chưa giành được độc lập;
Nhận thức rằng, tất cả các dân tộc có quyền bất di bất dịch đối với tự do hoàn toàn và với sự thực hiện chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình;
Long trọng tuyên bố sự cần thiết thực hiện việc kết thúc nhanh chóng và không điều kiện chủ nghĩa thực dân cùng tất cả các hình thức biểu hiện của nó;
Và vì mục đích này
Tuyên bố rằng:
  1. Sự nô dịch      các dân tộc xuất phát từ ách cai trị, sự đô hộ và bóc lột của ngoại bang      cấu thành sự phủ nhận các quyền cơ bản con người là trái với Hiến chương      Liên Hợp Quốc và là một sự cản trở đối với việc thúc đẩy hòa bình và hợp      tác trên thế giới.
  2. Tất cả các      dân tộc có quyền tự quyết xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết      định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế,      xã hội và văn hóa.
  3. Việc thiếu      sự sẵn sàng về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa không bao giờ      được dùng như lý do cho việc trì hoãn (trao trả) độc lập cho các dân tộc.
  4. Tất cả mọi      hoạt động vũ trang hoặc các biện pháp đàn áp dưới bất kỳ hình, thức      nào nhằm chống lại các dân tộc phụ thuộc phải bị chấm dứt để tạo khả năng      cho các dân tộc đó thực hiện một cách hòa bình và tự do quyền độc lập hoàn      toàn của họ, và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ phải được tôn trọng.
  5. Các bước      tiến hành phải sớm được thực hiện tại các lãnh thổ quản thác và chưa      tự quản hoặc tại tất cả các lãnh thổ khác chưa giành được độc lập, để      chuyển tất cả quyền lực cho nhân dân của những lãnh thổ nào mà không có      bất kỳ điều kiện hay sự bảo lưu nào phù hợp với ý chí và nguyện vọng được      bày tỏ một cách tự do của họ không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng      tộc, tín ngưỡng hoặc màu da, để tạo ra khả năng cho các dân tộc này được      hưởng thụ nền độc lập và tự do hoàn toàn.
  6. Bất kỳ cố      gắng nào nhằm gây phá vỡ toàn bộ hay một phần sự thống nhất quốc gia và      toàn vẹn lãnh thổ của một đất nước là trái với các mục tiêu và nguyên tắc      của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
Tất cả các quốc gia phải tuân thủ một cách nghiêm túc và chặt chẽ các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới và Tuyên bố này trên cơ sở bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và tôn trọng chủ quyền của tất cả các dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ.

Cách mạng thường ăn thịt những người sinh của nó

philippoteaux_Lamartine
Tác giả: Peter St. Onge – Người dịch: Phạm Nguyên Trường
Theo Tin Tức Hàng Ngày – 16 Jan 2015
Lời người dịch: Đây có thể được coi là lời bạt cho những tác phẩm như: Đêm Giữa Ban Ngày, Bên Thắng Cuộc, Đèn Cù, Giai Cấp Mới… và nhiều tác phẩm khác nữa.
Cách mạng cánh tả là một trong những cú lừa lớn nhất trong lịch sử. Cả các nhà trí thức, những người khao khát bắn phá lẫn những người bị thiệt thòi, những người bị đưa vào trại tập trung chứ không phải vào thiên đường trên cõi thế, đều được hứa như thế cả.
“Cách mạng thường ăn thịt những đứa con của mình”. Nhận xét này, do một nhà báo đưa ra trong cuộc Cách mạng Pháp, chỉ đúng một phần. Trên thực tế, các cuộc cách mạng ăn thịt chính những người sinh ra nó. Cụ thể là, các cuộc cách mạng tả khuynh trong lịch sử ăn ngay những trí thức cánh tả, tức là những người tạo điều kiện cho cách mạng xảy ra. Tôi dùng từ “cánh tả” ở đây là để chỉ những cuộc cách mạng có mục tiêu rõ ràng là sử dụng sức mạnh của chính phủ nhằm cải tạo xã hội. Để cải tạo xã hội cho phù hợp với cách hiểu về “công lý” mà những người cổ động cho nó coi là hấp dẫn.
Tất nhiên, trong những cuộc cách mạng mang tính cải cách như thế, các nhà trí thức chỉ là một món khai vị mà thôi. Những cuộc cách mạng mang tính cải cách của lịch sử chuyển thẳng vào món chính: nó bắt đầu ăn xơi những người bị thiệt thòi và những người thiểu số, tức là những người ủng hộ cách mạng nhiệt tình nhất.
Tất cả những cuộc cách mạng cánh tả trong thế kỷ XX đều theo mô hình này: được những nhà trí thức không tưởng trợ giúp, quyền lực nhanh chóng bị các nhà chính trị chuyên nghiệp – những kẻ luôn luôn lợi dụng những bản năng thấp kém nhất của những người bình thường – chiếm đoạt. Ngay cả ở những nơi “văn minh” nhất, như nước cộng Weimar ở Đức hay “sân chơi của những ngôi sao” Cuba trong những năm 1950, những kẻ vừa mới được đưa lên ngai vàng đều lấy làm sung sướng khi nhìn thấy những nhà trí thức và những bạn bè “đã thoái hóa” của họ bị bỏ tù, bị tra tấn và bị treo cổ trên những cột đèn.
Nhắc lại chỉ thêm buồn. Nhất là đối với những người cấp tiến muốn lấy tiền của người đóng thuế để cổ vũ cho bạo lực. Mao nổi tiếng khi khoe rằng đã “chôn sống 46.000 trí thức”, ý là ông ta đã đưa tất cả bọn họ vào các trại tập trung để họ ngậm miệng và chết ở đó. Phong trào cộng sản cực đoan của Pol Pot nổi tiếng vì đã giết hàng ngàn trí thức, đến mức tất cả những người đeo kính đều bị giết. Ngay cả các chế độ được cho là “mát mẻ”, ví dụ như của Fidel Castro, cũng lập ra các trại tập trung dành cho cho người đồng tính, trong khi Liên Xô cấm đồng tính luyến ái trong hơn năm mươi năm, vượt cả Putin.
Khôi hài nhất là, từng là ngôi sao sáng trong trường đại học, nhưng người hùng cực đoan Che Guevara đã tỏ ra vui sướng và tự mình giết những người đồng tính, những người mà ông ghét cay ghét đắng, trong khi giúp xây dựng hàng loạt trại tập trung của Fidel trên khắp cả nước để tra tấn những người đồng tính và những người đàn ông biến thái nhằm buộc họ phải từ bỏ điều được coi là trụy lạc, được coi sản phẩm của chủ nghĩa tư bản suy đồi về mặt đạo đức.
Tại sao các cuộc cách mạng mang tính cải cách đều thích giết cả những người trí thức cánh tả và những “nhóm dễ bị tổn thương” vốn gần gũi như thế với trung tâm của cánh tả? Bởi vì quyền lực có logic riêng của nó. Bởi vì tất cả các chính phủ dựa vào bạo lực đều phải thường xuyên ngó lại phía sau. Và điều đó có nghĩa là nó phải kêu gọi những bản năng thấp kém nhất của quần chúng. Nếu quần chúng ghét người đồng tính, hay người Do Thái, hay các nhà trí thức thì chính phủ sẽ làm những gì nó nói, nó sẽ đưa những người đồng tính, người Do Thái và trí thức vào trại khổ sai. Những người thấp hèn nhất ghét cái gì thì chính phủ toàn trí toàn năng ghét cái ấy.
Tại sao các nhà trí thức lại không nhìn thấy mô thức hành động khủng khiếp này? Có lẽ, họ hy vọng rằng lần này khác và lần này những người cấp tiến trong các trường đại học và các chính trị gia sa lông của họ sẽ nắm được dây cương. Nếu lịch sử là người dẫn đường thì những người đó sẽ không giữ được dây cương. Không những thế, những nhà chính trị chuyên nghiệp sẽ giật mất cuộc cách mạng của họ và biến nó thành cơn ác mộng khủng khiếp nhất đối với họ: biến thành cuộc cách mạng phản-trí-tuệ, chống người đồng tính, phân biệt chủng tộc và bài Do Thái. Dù khởi nguồn của cách mạng có trong sạch đến đâu thì lịch sử cũng cho thấy kết quả tất yếu là như thế.
Chẳng có gì vui cả. Không ai trong chúng ta muốn những người cánh tả cấp tiến bị treo lên cột đèn hay bị giết trong văn phòng của Che cho ông ta xem. Chúng ta muốn là những nhà cải cách ủng hộ bạo lực sẽ phải có thái độ thận trọng hơn nữa với mồi lửa mà họ đang nhóm lên. Họ nên nghiên cứu thêm một chút về lịch sử. Để hiểu lý do tại sao, lúc nào và ở đâu nó cũng như thế, để hiểu cưỡi lên con hổ mang tên chính phủ có quyền lực không hạn chế là việc nguy hiểm đến mức nào.
Những người cánh tả nghĩ rằng họ có thể kiểm soát được con hổ mang tên quần chúng đã được phá cũi sổ lồng. Nhưng họ không thể kiểm soát được và trên thực tế, họ sẽ là người đầu tiên bị treo lên cột đèn. Và đấy là điều rất đáng buồn cho tất cả chúng ta, cả những người tả khuynh lẫn hữu khuynh.
Tác giả: Peter St. Onge
Người dịch: Phạm Nguyên Trường
Peter St. Onge là Phó giáo sư tại Taiwan’s Fengjia University College of Business.
Nguồn:  Mises Institute