Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015
Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015
Một Nghị Quyết Đã Khiến Các Quốc Gia Thuộc Địa Được Trao Trả Độc Lập Mà Không Đổ Máu
Vào thập kỷ 50’s, Liên Hiệp Quốc là một cơ quan với rất nhiều quyền lực, ngay cả đối với các chính quyền cộng sản. Nhờ Nghị Quyết sau đây với sự đồng thuận tuyệt đối của Đại Hội Đồng, tất cả các thuộc địa của châu Âu, từ Á sang Phi, đã được hoàn trả quyền tự trị và độc lập. Các láng giềng của Việt Nam như Mã Lai, Indonesia, Brunei, Mayanmar…đều hưởng độc lập mà không phải gây chiến với thực dân. Riêng dân tộc Việt Nam, 6 năm trước đó, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ và đảng cộng sản đã hy sinh hơn 800 ngàn sinh mạng (có hồ sơ ghi hơn 3 triệu) để đánh Pháp dành độc lập. Có lẽ mình không biết kiên nhẫn như Mã Lai hay Indonesia?
TUYÊN BỐ VỀ TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO CÁC NƯỚC VÀ CÁC DÂN TỘC THUỘC ĐỊA, 1960.
(Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) ngày 1/4/1960 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc).
Đại Hội đồng,
Lưu ý đến quyết tâm đã được các dân tộc trên thế giới tuyên bố trong Hiến chương Liên Hợp Quốc nhằm tái khẳng định sự tin tưởng vào các quyền cơ bản của con người, nhân phẩm và giá trị của con người, quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ, đồng thời nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội và các tiêu chuẩn sống tốt đẹp hơn với sự tự do rộng rãi hơn;
Nhận thức sự cần thiết của việc tạo ra các điều kiện cho ổn định và phồn vinh cũng như mối quan hệ hòa bình và hữu nghị trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và sự tôn trọng rộng rãi và tuân thủ quyền con người và những tự do cơ bản dành cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo;
Thừa nhận sự khao khát cháy bỏng về tự do của các dân tộc phụ thuộc vào vai trò quyết định của các dân tộc đó trong việc giành được nền độc lập của họ;
Nhận thức rõ những xung đột đang tăng lên do sự chối bỏ hoặc những cản trở đối với con đường đến với tự do của các dân tộc này, đang gây ra sự đe dọa nghiêm trọng cho hòa bình thế giới;
Xét vai trò quan trọng của Hiến chương Liên Hợp Quốc trong việc trợ giúp phong trào độc lập tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản;
Thừa nhận rằng, các dân tộc trên thế giới mong muốn mạnh mẽ việc chấm dứt chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức biểu hiện của nó;
Tin tưởng rằng, sự tiếp tục tồn tại của chủ nghĩa thực dân sẽ ngăn cản sự phát triển của hợp tác kinh tế quốc tế, gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của các dân tộc phụ thuộc và cản trở ý tưởng của Liên Hợp Quốc về một nền hòa bình cho toàn thế giới;
Khẳng định rằng, các dân tộc có thể, vì các mục đích của chính mình, tự do định đoạt nguồn của cải và tài nguyên thiên nhiên mà không làm ảnh hưởng đến bất kỳ trách nhiệm nào phát sinh từ việc hợp tác kinh tế quốc tế, trên cơ sở nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và pháp luật quốc tế;
Tin tưởng rằng, tiến trình giải phóng là không thể thể cưỡng lại được và rằng để tránh những khủng hoảng nghiêm trọng, chủ nghĩa thực dân và tất cả những sự ngăn cách và phân biệt đối xử đi kèm theo nó phải bị kết thúc;
Hoan nghênh sự xuất hiện trong những năm gần đây của một số lượng lớn các lãnh thổ phụ thuộc trở thành tự do và độc lập, và thừa nhận những xu hướng mạnh mẽ đang tăng lên đối với tự do ở những lãnh thổ chưa giành được độc lập;
Nhận thức rằng, tất cả các dân tộc có quyền bất di bất dịch đối với tự do hoàn toàn và với sự thực hiện chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình;
Long trọng tuyên bố sự cần thiết thực hiện việc kết thúc nhanh chóng và không điều kiện chủ nghĩa thực dân cùng tất cả các hình thức biểu hiện của nó;
Và vì mục đích này
Tuyên bố rằng:
- Sự nô dịch các dân tộc xuất phát từ ách cai trị, sự đô hộ và bóc lột của ngoại bang cấu thành sự phủ nhận các quyền cơ bản con người là trái với Hiến chương Liên Hợp Quốc và là một sự cản trở đối với việc thúc đẩy hòa bình và hợp tác trên thế giới.
- Tất cả các dân tộc có quyền tự quyết xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa.
- Việc thiếu sự sẵn sàng về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa không bao giờ được dùng như lý do cho việc trì hoãn (trao trả) độc lập cho các dân tộc.
- Tất cả mọi hoạt động vũ trang hoặc các biện pháp đàn áp dưới bất kỳ hình, thức nào nhằm chống lại các dân tộc phụ thuộc phải bị chấm dứt để tạo khả năng cho các dân tộc đó thực hiện một cách hòa bình và tự do quyền độc lập hoàn toàn của họ, và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ phải được tôn trọng.
- Các bước tiến hành phải sớm được thực hiện tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản hoặc tại tất cả các lãnh thổ khác chưa giành được độc lập, để chuyển tất cả quyền lực cho nhân dân của những lãnh thổ nào mà không có bất kỳ điều kiện hay sự bảo lưu nào phù hợp với ý chí và nguyện vọng được bày tỏ một cách tự do của họ không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, tín ngưỡng hoặc màu da, để tạo ra khả năng cho các dân tộc này được hưởng thụ nền độc lập và tự do hoàn toàn.
- Bất kỳ cố gắng nào nhằm gây phá vỡ toàn bộ hay một phần sự thống nhất quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của một đất nước là trái với các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015
Sùng bái – mảnh đất tốt cho chế độ nô lệ
Trong thời Cổ Đại, chế độ nô lệ được thiết lập bằng bạo lực.
Kẻ mạnh tạo ra quanh mình một nhóm những kẻ trung thành với nó, dùng bạo lực
bắt những thành viên khác trong quần thể phải làm nô lệ cho chúng. Kẻ nào chống
lại sẽ phải chết
Từ thời Trung Đại đến nay, trên danh nghĩa không còn chế độ
chiếm hữu nô lệ. Tuy nhiên, ở nơi này nơi khác, bằng cách này hay cách khác,
các nhà nước phong kiến và nửa phong kiến thực chất vẫn tạo ra trong lòng nó
những kiểu chế độ nô lệ “không toàn phần”. Đặc biệt, về tư tưởng, đại đa số
quần chúng thực chất vẫn phải sống trong chế độ nô lệ. Lợi dụng sự dốt nát của
quần chúng – do chưa có điều kiện học tập, nghiên cứu và cũng do chính sách ngu
dân – giới cầm quyền nhồi sọ con người đến mức họ có thể coi những điều vô lý
và ngu xuẩn nhất như chân lý tuyệt đối. Trong số những “chân lý” khốn nạn đó có
những tín điều như: vua là con trời (hay lãnh tụ là thánh) và mọi thứ ta được
hưởng đều là của vua ban (hay lãnh tụ đem đến cho).
Sở dĩ kiểu nô dịch như vậy tồn tại được hàng ngàn năm là vì
bên cạnh sự áp đặt ách cai trị và tư tưởng, nó còn được duy trì bởi chính tâm
lý quần chúng, một thứ tâm lý của kẻ thiếu bản lĩnh và thiếu ý thức về giá trị
cá nhân: tâm lý thích dựa bóng thần tượng, và do đó rất thích (cùng nhau) xây
dựng thần tượng.
Vì sao con người thích thần tượng?
Có vài lý do để người ta thích thần tượng. Thứ nhất, do cảm
thấy thần tượng là người che chở và đem lại quyền lợi cho mình. Điều này có khi
đúng, có khi là ảo tưởng. Lãnh tụ của một cuộc khởi nghĩa chống lại một chế độ
hà khắc và thối nát là nhân vật chủ chốt tạo ra sự thay đổi (ít ra ban đầu là
theo chiều hướng tốt lên) cho cuộc sống của hàng vạn, hàng triệu người. Người
đứng đầu một quốc gia, trước sự xâm lăng của một thế lực ngoại bang độc ác, nếu
có bản lĩnh, có thể là ngọn cờ để tập hợp mọi lực lượng chống xâm lăng. Một nhà
cải cách thông minh có thể định hướng cho xã hội phát triển nhanh… (Tuy nhiên,
đừng bao giờ quên rằng đó mới là sự định hướng; kết quả của sự thay đổi chỉ có
thể đạt được bằng mồ hôi xương máu của hàng triệu người!) Nhưng trong rất nhiều
trường hợp, đông đảo quần chúng ngộ nhận kẻ bóc lột mình là ân nhân. Thứ hai,
người ta bám vào những lời giáo huấn của thần tượng như những chân lý để khỏi
phải động não (mặc dù chẳng mấy khi làm theo). Và thứ ba, khi có thần tượng,
người ta cảm thấy chính mình dường như cao giá hơn.
Với sự châm biếm nhẹ nhàng, câu ca dao cổ nói:
“Một ngày tựa mạn thuyền rồng
Còn hơn mãn kiếp nằm trong thuyền chài.”
Thuyền rồng là quyền lực, cũng là sự sang trọng. Người “ở
trong thuyền rồng” là thần tượng. Càng gần người đó, người ta càng cảm thấy
mình danh giá, có quyền ngẩng cao đầu trước những kẻ đứng xa thuyền rồng hơn.
Hơn thế, chưa cần chạm được vào thần tượng hay được thần
tượng vấn an, chỉ cần được nói về thần tượng thôi, người ta cũng cảm thấy rưng
rưng xúc động vì hạnh phúc rồi. Đó, chi tiết này trong cuộc sống của thần tượng
của tôi, liệu đã mấy ai biết. Thế mà tôi biết đấy nhé. Và tôi hiểu được giá trị
của chi tiết đó. Tôi biết nói về nó. Tôi có thể làm cho mọi người hiểu thêm
được vĩ nhân của chúng ta (và so với người chung quanh thì tôi được quyền “sở
hữu” vĩ nhân nhiều hơn chút ít). Hiểu biết về vĩ nhân cũng là một kiểu tri
thức, và ở chỗ này, tôi hơn các anh đấy nhé!
Thần tượng được xây dựng như thế nào?
Khi xảy ra một sự kiện gắn với tên tuổi một người nổi tiếng,
ví dụ kỷ niệm một trận chiến mà người đó là chỉ huy bên thắng cuộc, người ta,
đặc biệt là giới truyền thông, bắt đầu thi nhau nói thật nhiều, bằng những cách
mà người ta cố gắng làm cho hay hơn, độc đáo hơn của những kẻ nói khác, về
người nổi tiếng đó. Chỉ cần một ngày mà toàn bộ giới truyền thông đều thi nhau
ca ngợi thần tượng, cuối ngày hôm đó cảm nhận của người nghe/xem về sự vĩ đại
của thần tượng sẽ rõ nét hơn hẳn ngày hôm trước.
Cứ thế, nếu năm nào người ta cũng nói về người đó hàng tháng
ròng trên phương tiện truyền thông, và kháo nhau tại gia đình, trên bàn nhậu ở
quán xá, một đồn thổi thành mười, mười đồn thổi thành trăm, tiếng tăm của nhân
vật đó tăng theo cấp số nhân… , thì sau ba-bốn mươi năm, người ta có thể biến
một chính khách ban đầu có ít nhiều nổi trội thành một vĩ nhân hạng một của
nhân loại. Người này thấy người khác ca ngợi mà mình chưa góp lời được thì cũng
cố ca ngợi vài câu, nếu biết được một vài chi tiết cụ thể về con người đó thì
càng hãnh diện. Ít có người nào tuy biết chút ít nhưng vì thấy mọi người ca
ngợi quá nhiều rồi nên thấy mình nói thêm cũng thừa và nhiêu khê.
Đặc biệt, khi có một vài phóng viên hay chính khách nước
ngoài ca ngợi thì tốc độ vĩ nhân hóa đối với nhân vật đó có thể vượt lên trên
mọi sự tưởng tượng.
“Mày nói thế nào ấy chứ… Cụ được bao nhiêu người ở các nước
văn minh ca ngợi cơ mà. Chính khách A ở nước X nói thế này. Phóng viên B ở nước
Y nói thế kia…”
Một yếu tố rất thuận lợi cho việc thần tượng hóa một nhân
vật chính là tâm lý thích thần tượng của người đời, thậm chí đơn giản là tâm lý
ngưỡng mộ kẻ có quyền thế, đặc biệt khi người ta chưa va chạm với kẻ cường
quyền. Bạn được một người lạ ôm chầm lấy trong lần gặp mặt đầu tiên, bạn sẽ
thấy bình thường. Nhưng nếu người ôm bạn là một yếu nhân của một quốc gia, thì
dù người đó không có gì thật sự kiệt xuất, bạn cũng sẽ thấy xúc động và nhớ mãi
cái ôm đó. Sự việc như vậy có thể định hướng nhận thức về cường quyền của bạn
cho toàn bộ cuộc đời. Cho nên, về mặt nhận thức, thật may mắn cho những ai thời
trẻ không một lần được một vị lãnh tụ nào ôm vai bá cổ. Tôi đã chứng kiến một
số nhà khoa học tài ba hết lời ca ngợi một vài hành vi rất bình thường của một
chính khách có hạng, coi đó như những quyết sách cực kỳ thông minh, thể hiện
một trí tuệ siêu đẳng.
Với tâm lý của đa số quần chúng như thế, việc xây dựng thần
tượng càng dễ dàng, nếu giới cầm quyền thi hành một chính sách nhằm thần thánh
hóa lãnh tụ. Hãy nhớ: một dân tộc văn minh bậc nhất như dân tộc Đức cũng đã
từng phát cuồng phát dại vì Adolf Hitler. Nếu giả dụ tài năng của y cũng chỉ
như y sẵn có, nhưng y bớt ngông cuồng chút ít, đừng tấn công Liên Xô, dừng tàn
sát dân Do Thái, và thỉnh thoảng y ôm chầm lấy một vài phóng viên hay chính
khách nước ngoài, thì y sẽ được xem là một trong những lãnh tụ vĩ đại của nhân
loại. Bạn có thể nói: thì chính vì y không có được cái đó nên y mới không vĩ
đại như một vài lãnh tụ của các dân tộc khác? Đúng vậy, nhưng đòi hỏi đó cũng
có gì cao siêu lắm đâu, và làm được điều đó đâu cần phải là một thiên tài?
Và hãy nhớ lại: hàng triệu người Bắc Hàn đã và đang tin rằng
cha con ông cháu họ Kim là những lãnh tụ vĩ đại. Hãy nhớ: “Gangnam Style” đang
làm hàng trăm triệu người phát rồ. Và nếu có “chiến lược” quảng cáo hợp lý,
khiêm tốn hơn chút ít, đồng thời đừng dùng một người “tâng” thô thiển như vị
giáo sư nọ, thì Huyền Chíp cũng đã có thể trở thành thần tượng của hàng triệu
thanh thiếu niên Việt Nam…
Tâm lý đám đông có thể làm nên những điều ghê gớm. Đặc biệt,
khi nó được một tầng lớp có thế lực khéo léo lợi dụng thì nó có thể tạo ra
những biến chuyển long trời lở đất. Đám người sùng bái một thần tượng có thể
nghiền nát bất cứ nhóm người nào dám nói những điều không hay về thần tượng của
họ.
Sùng bái – mảnh đất tốt cho chế độ nô lệ
Một khi người ta tôn thờ một thần tượng, hầu hết là suốt đời
người ta sẽ trung thành với thần tượng đó, và không bao giờ đặt ra câu hỏi:
Liệu ở góc độ này hay góc độ kia, vị thần tượng của mình có đúng hay không.
Dưới chế độ phong kiến, chỉ cần hé răng hỏi liệu vua có sai không đã bị xử trảm
rồi. Ở các nước cựu cộng sản, tình trạng cũng không khá hơn là mấy. Tại Liên
Xô, ngay cả khi Stalin đã chết thì Khruschëv và một vài ủy viên bộ chính trị
khác phải vất vả lắm mới tiến hành được khá thành công cuộc chiến chống lại
được tệ sùng bái cá nhân Stalin, và nhiều lúc ông ta đã ở trong tình trạng nguy
hiểm cả đến tính mạng. Ở hầu hết các quốc gia độc tài hay độc đảng khác, việc
huyền thoại hóa lãnh tụ cũng là cản trở đáng sợ, làm cho tiến trình dân chủ hóa
phải chịu biết bao hy sinh mất mát đau đớn. Nhà cầm quyền nắm được cái “thóp”
đó, nên họ thường xuyên tiến hành và “mồi” cho quần chúng tham gia xây dựng và
“bồi đắp” cho thần tượng.
Việc trung thành với thần tượng gần như đồng nghĩa với việc
trung thành với chế độ mà thần tượng đó đã tham gia dựng nên. Vì vậy, những ai
có ý thức vươn tới tự do, hãy đừng mắc mưu những kẻ muốn xây dựng thần tượng để
duy trì chế độ.
Một người có công với dân tộc hay nhân loại cần phải được
ghi nhận và tôn vinh. Nhưng chỉ nên làm việc đó ở mức độ vừa phải và xứng đáng.
Việc ngày nào cũng ra rả ca ngợi, thường xuyên tổ chức hội thảo, tưởng niệm,…
cuối cùng chỉ góp phần làm cho xã hội đi thụt lùi, kéo dài sự nô dịch.
*
Đức Phật Gautama (Thích Ca Mâu Ni) – người mà ngày càng được
nhiều nhà tư tưởng, nhiều nhà bác học thừa nhận là có tư tưởng cao siêu nhất và
cũng đúng đắn nhất – đã từng dạy:
“Con người phải là chỗ dựa của chính mình. Chớ tìm nơi trú
ẩn ở chỗ khác.”
Theo NGUYỄN TRẦN SÂMThứ Tư, 11 tháng 2, 2015
Tốc độ xoay chuyển vận mệnh đất nước: Kỳ tích của các anh hùng thời Minh Trị duy tân
Trần Văn Thọ
Trước khúc
ngoặt của lich sử, vận mệnh đất
nước và dân tộc tất nhiên
tùy thuộc vào hành động của
nhũng người có trách nhiệm. Dĩ
nhiên tiên đề là phải có
tinh thần yêu nước, có ý chí,
có ý thức trách nhiệm, nhưng
nếu không đủ trí tuệ, không
có đầu óc linh hoạt cảm nhận
ngay được cái mới để từ
bỏ nhanh những tư tưởng lỗi thời
thì sẽ đưa ra những quyết định
sai lầm hoặc bỏ mất thời cơ.
Vào giữa
thế kỷ 19, Nhật Bản là một nước
phong kiến, bế quan tỏa cảng, xã hội
phân chia thành các giai cấp sĩ, nông,
công, thương và chịu ảnh hưởng
của Nho giáo. Thế rồi chiến thuyền
Mỹ của đô đốc Perry xuất hiện
ở vịnh Edo năm 1853 đã khuấy động
cả xã hội phẳng lặng đó.
Nhưng chỉ có 15 năm (Minh Trị duy tân
bắt đầu năm 1868), các sĩ phu, các
lãnh đạo của Nhật đã biến
một đất nước phong kiến bảo
thủ trở thành một nhà nước
tiếp thu toàn diện thế giới văn
minh để tiến lên hàng các quốc
gia thượng đẳng. Ý chí, trí
tuệ và sự chuyển dịch tư tưởng
rất nhanh của những lãnh đạo thời
đó đã xoay chuyển đất nước
một cách ngoạn mục với một tốc
độ có thể nói là kỳ diệu.
Thời
đại Edo ở Nhật kéo dài từ
năm 1603 đến năm 1867. Quyền cai trị
đất nước tập trung vào chính
quyền Mạc Phủ đóng tại Edo (Tokyo
ngày nay) do các tướng quân của
dòng họ Tokugawa nối tiếp nhau lãnh
đạo. Thiên hoàng (đóng đô
ở Kyoto) chỉ có vai trò tượng
trưng. Cả nước chia thành 277 phiên
(han),
mỗi phiên có một lãnh chúa
(daimyo)
đứng đầu. Cứ hai năm một lần
các lãnh chúa phải về Edo chầu
tướng quân, một quy chế lập ra để
duy trì sự trung thành của các phiên
đối với Mạc Phủ. Tuy nhiên từ
đầu thế kỷ 19, một số phiên
ở phía tây nam mạnh lên về kinh
tế và quân sự nên sự gắn
bó với Mạc Phủ yếu đi. Hai phiên
mạnh nhất thời đó là Satsuma
(tỉnh Kagoshima ngày nay) và Choshu (Yamaguchi
ngày nay). Về đối ngoại, chính
quyền Edo theo chính sách bế quan tỏa
cảng, chỉ cho ngoại lệ là cảng
Nagasaki được giao thương với nước
ngoài.
Năm
1853, hạm đội Mỹ do đô đốc
Perry dẫn đầu ghé cảng Uraga ở
vịnh Edo, yêu cầu Mạc Phủ mở cửa
giao thương. Cả xã hội náo động
vì sự kiện này. Đến năm
1858, Perry lại đến và yêu cầu ký
kết các hiệp ước bất lợi
cho Nhật với hai nội dung chính là
Nhật mất chủ quyền về thuế quan
(không được dùng thuế quan để
bảo hộ sản phẩm trong nước khi mậu
dịch với nước ngoài) và không
có quyền tài phán đối với
người nước ngoài cư trú tại
Nhật. Chính quyền Mạc Phủ sợ các
nước phương tây gây chiến nên
đồng ý ký các hiệp ước
đó. Ngoài Mỹ, các nước
khác như Pháp, Anh, Hoà Lan, Nga cũng
ép Nhật ký các hiệp ước
tương tự.
Lúc đó
chính trị Nhật rối bời và chia
ra nhiều phe có các lập trường
khác nhau. Đối nội có 2 quan điểm:
“tôn vương” (chủ trương
dành thực quyền về cho thiên hoàng)
hay duy trì thể chế cũ (do Mạc Phủ
cai trị); đối ngoại cũng có hai
quan điểm: bài ngoại (nhương
di)
hay khai phóng (mở của giao thương và
học tập nước ngoài). Như vậy
kết hợp lập trường đối nội
và đối ngoại có tới 4 phe phái.
Đặc biệt hai phiên mạnh nhất
Satsuma và Choshu lúc đầu có tư
tưởng bài ngoại, quyết chống Tây
phương bằng vũ lực. Nhưng về
mặt đối nội thì hai bên có
lập trường khác, Satsuma ủng hộ
Mạc Phủ trong khi Choshu thì tôn vương.
Do khác nhau về chính sách đối
nội, hai phiên này mâu thuẫn nhau, có
lúc xảy ra giao tranh khi Satsuma vâng lệnh
Mạc Phủ cử binh đi chinh phạt Choshu.
Sang thập niên
1860, tình hình biến chuyển theo một
hướng hoàn toàn mới. Năm 1863, do
chính sách bài ngoại, Satsuma đã
bắn vào thương thuyền của Anh và
chiến tranh xảy ra. Nhưng với vũ khí
tối tân, Anh đã thắng dễ dàng.
Cũng trong thời gian đó, Choshu tấn công
thương thuyền của Mỹ, Pháp và
Hoà Lan tại eo biển Kanmon. Ba nước
phản kích và Choshu thua ngay. Sau dịp thử
sức này, cả Satsuma và Choshu nhận
thấy không thể đối đầu với
Tây phương bằng quân sự mà
phải có chiến lược khác. Cùng
lúc đó ý kiến của các
nhà tư tưởng như Yoshida Shoin và
Takasugi Kensaku ngày càng được chú
ý. Yoshida cho rằng không biết người
thì làm sao thắng được người
trong các cuộc tranh chấp. Takasugi, học trò
của Yoshida, triển khai ý ấy thành
chính sách cụ thể “phải
học tập nước ngoài mới có
ngày thắng được nước ngoài”.
Takasugi cũng là người được
Choshu cử đi gặp đại diện các
nước Mỹ, Pháp và Hoà Lan để
xin hoà sau cuộc xung đột ở eo biển
Kanmon.
Với sự
chuyển hướng của hai phiên mạnh
nhất, khuynh hướng hoà hoãn với
nước ngoài và học tập văn
minh tây phương dần dần chiếm ưu
thế. Vấn đề còn lại là đối
nội: thế lực nào sẽ lãnh đạo
trong thời đại học tập nước
ngoài để xây dựng đất nước?
Tại phiên Satsuma, với sự chuyển giao
thế hệ lãnh đạo sang những người
trẻ như Saigo Takamori và Ohkubo Toshimichi, hai
người mà sau này giữ vai trò
nòng cốt trong việc xây dựng thời
đại Minh Trị, ý thức ủng hộ
Mạc Phủ ngày càng phai nhạt và
dần dần họ thấy phải đoàn
kết chung quanh thiên hoàng, biểu tượng
cho sự thống nhất dân tộc, mới
đưa đất nước vào giai đoạn
mới.
Vào thời
điểm đó, sự xuất hiện của
Sakamoto Ryoma, một chí sĩ thuộc phiên
Tosa (Kochi ngày nay), trên vũ đài
chính trị rất đúng lúc. Lúc
18 tuổi (năm 1853) trên đường từ
Tosa lên Edo để học kiếm thuật,
Sakamoto đã tận mắt chứng kiến
hạm đội hiện đại của Perry,
cảm nhận sức mạnh của phương
Tây và thấy Nhật phải thay đổi
mới thoát được nguy cơ bị
thực dân hóa. Tương truyền rằng
sau đó ông đã tìm đọc
hết những sách kinh điển của các
nước tây Âu vừa mới được
dịch sang tiếng Nhật. Chuyện kể rằng
ông đã
nói với người bạn đồng hương
lâu ngày mới gặp lại rằng “vũ
khí quan trọng của thời đại bây
giờ không phải là thanh gươm cây
kiếm, cũng không phải là súng
ống mà là cái nầy đây”
(ông rút trong túi ra đưa cho bạn
xem cuốn
Vạn quốc công pháp
vừa được phát hành (năm
1865), đây là cuốn sách dịch từ
cuốn Elements
of International Law
của Henry Wheaton.
Sakamoto nhận thấy
Mạc Phủ không còn uy tín và
năng lực để lãnh đạo đất
nước trong thời đại mới nên
đã vận động quy tụ thế lực
mới mà bắt đầu bằng việc
điều đình để hai phiên mạnh
nhất là Satsuma và Choshu làm hoà
với nhau. Kết cuộc ông đã thành
công và đồng minh Satsuma-Choshu ra đời.
Họ đã liên hiệp với hai phiên
khác là Tosa và Hizen (Saga ngày nay) tạo
thành lực lượng tôn vương
mạnh mẽ.
Saigo Takamori trở thành chỉ huy trưởng
của lực lượng nầy.
Hình trái: Saigo
Takamori ; phải:
Katsu Kaishu
Hội
đàm Saigo-Katsu ở đền Atago, ngoại thành Edo
Trước sức
mạnh của phe tôn vương, tướng
quân đương thời và cũng là
tướng quân cuối cùng của Mạc
Phủ là Yoshinobu thỏa hiệp bằng cách
trả lại thực quyền cho thiên hoàng
(tháng 10/1867) với hy vọng tham gia chính
phủ mới trong đó quyền lợi của
Tokugawa được duy trì. Tuy nhiên kết
cuộc phía Tokugawa thấy mình bị mất
quá nhiều quyền lợi, chẳng hạn
phải giải tán quân đội đã
có từ trước, nên đã đem
quân chống lại phía thiên hoàng.
Cuộc nội chiến kéo dài gần nửa
năm, cuối cùng Tokugawa suy yếu phải
rút quân về cố thủ thành Edo.
Tướng giữ thành lúc đó là
tổng đốc lục quân Katsu Kaishu. Quân
đội phía thiên hoàng do Saigo Takamori
chỉ huy tiến về Edo chuẩn bị vây
thành.
Trước khả
năng nước ngoài tìm cách thôn
tính Nhật, những nhà lãnh đạo
hai bên Mạc Phủ và thiên hoàng
phải có quyết định để tránh
tổn thất lớn cho đất nước.
Cuối cùng, phân tích lực lượng
hai bên và tình hình thế giới,
và suy nghĩ về tương lai đất
nước, tướng Katsu đã đi đến
quyết định là phải đầu hàng
quân đội thiên hoàng mới cứu
được nước Nhật ra khỏi thảm
họa. Ông thuyết phục phe chủ chiến
trong thành và hứa sẽ đưa ra các
điều kiện đầu hàng không
phương hại đến tính mạng và
tài sản tối thiểu của gia đình,
thân tộc và quan lại của Mạc
Phủ.
Cuộc đàm
phán giữa hai tướng Saigo và Katsu đã
diễn ra thuận lợi ngoài dự tưởng
của Katsu, nhất là thái độ rất
hoà nhã và khiêm tốn của Saigo
đối với người chiến bại đã
làm phía Tokugawa thấy yên tâm và
không hề có mặc cảm của người
thất thế. Phía tướng Katsu cũng
trình bày nội tình của phe Tokugawa
với thái độ chân thành. Saigo đã
đồng ý các điều kiện đầu
hàng. Ông đã về thuyết phục
những người chủ chiến phía thiên
hoàng. Với uy tín của Saigo mọi người
đã chấp nhận chấm dứt chiến
tranh theo kết quả cuộc hội đàm
của Saigo và Katsu. Lịch sử đã
ghi lại sự kiện nầy bằng 4 chữ Vô
huyết khai thành
(mở của thành đầu hàng để
tránh đổ máu). Tướng quân
Yoshinobu được cho về sống cuộc đời
ẩn dật tại Shizuoka (gần núi Phú
sĩ). Những người tài giỏi của
thời Tokugawa được chính quyền
Minh Trị mời cộng tác. Đặc biệt
tướng Katsu được mời làm bộ
trưởng hải quân vì ông nguyên
là chuyên gia về kỹ thuật quân
sự tây phương, am hiểu nghệ thuật
cầm quân trên biển. Hải quân của
Nhật được cận đại hóa
và sau nầy giành thắng lợi trong
chiến tranh Nhật Nga (1905) một phần to lớn
có công lao của Katsu, nói rộng ra là
nhờ chính sách đặt lợi ích
dân tộc lên trên hết của những
người lập ra chính quyền Minh Trị
nên những người tài của chế
độ cũ được trọng dụng.
Vài tháng
sau sự kiện vô huyết khai thành, Edo
được đổi tên là Tokyo (tháng
7/1868) và sau đó ít lâu Minh Trị
thiên hoàng dời đô từ Kyoto về
Tokyo (tháng 10/1868), đánh dấu một
thời đại mới.
Như
vậy chỉ trong vòng 15 năm Nhật Bản
đã làm được cuộc cách
mạng đưa đất nước vào kỷ
nguyên mới. Có thể tóm tắt
những yếu tố làm nên kỳ tích
này.
Thứ nhất,
các sĩ phu, các lãnh đạo thời
đó đã đặt tiền đồ,
vận mệnh đất nước lên trên
hết nên đã thỏa hiệp nhanh chóng.
Họ đã khôn khéo dùng thiên
hoàng làm biểu tượng để dễ
thống nhất các lực lượng vốn
đã phân tán do chế độ phiên
trấn thời Mạc Phủ. Trước nguy cơ
bị nước ngoài thống trị, dù
với lập trường nào, họ cũng
cảm thấy trách nhiệm với đất
nước nên đã giải quyết các
tranh chấp nội bộ rất nhanh, đã
không kéo dài các cuộc nội
chiến làm hao tổn nội lực.
Thứ hai, những
sĩ phu, những lãnh đạo của Nhật
thời đó thức thời nhanh chóng
nên đã thay đổi chiến lược
một cách ngoạn mục. Mới đánh
một trận họ đã nhận ngay ra được
sức mạnh quân sự của Âu Mỹ,
mới đọc một số sách vở đã
ngộ ra được sức mạnh của văn
minh phương Tây và thấy là mình
phải học hỏi để canh tân đất
nước. Đằng sau những phán đoán
chính xác và thay đổi chiến
lược kịp thời nầy là tinh thần
và nỗ lực học hỏi, tìm hiểu
nguồn gốc sức mạnh của những
người, những thế lực mới lạ
đến từ phương Tây.
Ngày nay với
tiến bộ của khoa học về phương
tiện đi lại và liên lạc, việc
tiếp xúc học hỏi với bên ngoài
quá dễ dàng. Tuy nhiên không ít
trường hợp lãnh đạo của
nhiều nước phải mất hàng chục
năm mới thực hiện được vài
cải cách, mất hàng nửa thế kỷ
hay lâu hơn mới thay đổi được
tư duy, chiến lược cần thiết để
đất nước phát triển./.
Tokyo
trước thềm năm 2015
Trần Văn Thọ
Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015
Cách mạng thường ăn thịt những người sinh của nó
Tác giả: Peter St. Onge – Người dịch: Phạm Nguyên Trường
Theo Tin Tức Hàng Ngày – 16 Jan 2015
Lời người dịch: Đây có thể được coi là lời bạt cho những tác phẩm như: Đêm Giữa Ban Ngày, Bên Thắng Cuộc, Đèn Cù, Giai Cấp Mới… và nhiều tác phẩm khác nữa.
Cách mạng cánh tả là một trong những cú lừa lớn nhất trong lịch sử. Cả các nhà trí thức, những người khao khát bắn phá lẫn những người bị thiệt thòi, những người bị đưa vào trại tập trung chứ không phải vào thiên đường trên cõi thế, đều được hứa như thế cả.
“Cách mạng thường ăn thịt những đứa con của mình”. Nhận xét này, do một nhà báo đưa ra trong cuộc Cách mạng Pháp, chỉ đúng một phần. Trên thực tế, các cuộc cách mạng ăn thịt chính những người sinh ra nó. Cụ thể là, các cuộc cách mạng tả khuynh trong lịch sử ăn ngay những trí thức cánh tả, tức là những người tạo điều kiện cho cách mạng xảy ra. Tôi dùng từ “cánh tả” ở đây là để chỉ những cuộc cách mạng có mục tiêu rõ ràng là sử dụng sức mạnh của chính phủ nhằm cải tạo xã hội. Để cải tạo xã hội cho phù hợp với cách hiểu về “công lý” mà những người cổ động cho nó coi là hấp dẫn.
Tất nhiên, trong những cuộc cách mạng mang tính cải cách như thế, các nhà trí thức chỉ là một món khai vị mà thôi. Những cuộc cách mạng mang tính cải cách của lịch sử chuyển thẳng vào món chính: nó bắt đầu ăn xơi những người bị thiệt thòi và những người thiểu số, tức là những người ủng hộ cách mạng nhiệt tình nhất.
Tất cả những cuộc cách mạng cánh tả trong thế kỷ XX đều theo mô hình này: được những nhà trí thức không tưởng trợ giúp, quyền lực nhanh chóng bị các nhà chính trị chuyên nghiệp – những kẻ luôn luôn lợi dụng những bản năng thấp kém nhất của những người bình thường – chiếm đoạt. Ngay cả ở những nơi “văn minh” nhất, như nước cộng Weimar ở Đức hay “sân chơi của những ngôi sao” Cuba trong những năm 1950, những kẻ vừa mới được đưa lên ngai vàng đều lấy làm sung sướng khi nhìn thấy những nhà trí thức và những bạn bè “đã thoái hóa” của họ bị bỏ tù, bị tra tấn và bị treo cổ trên những cột đèn.
Nhắc lại chỉ thêm buồn. Nhất là đối với những người cấp tiến muốn lấy tiền của người đóng thuế để cổ vũ cho bạo lực. Mao nổi tiếng khi khoe rằng đã “chôn sống 46.000 trí thức”, ý là ông ta đã đưa tất cả bọn họ vào các trại tập trung để họ ngậm miệng và chết ở đó. Phong trào cộng sản cực đoan của Pol Pot nổi tiếng vì đã giết hàng ngàn trí thức, đến mức tất cả những người đeo kính đều bị giết. Ngay cả các chế độ được cho là “mát mẻ”, ví dụ như của Fidel Castro, cũng lập ra các trại tập trung dành cho cho người đồng tính, trong khi Liên Xô cấm đồng tính luyến ái trong hơn năm mươi năm, vượt cả Putin.
Khôi hài nhất là, từng là ngôi sao sáng trong trường đại học, nhưng người hùng cực đoan Che Guevara đã tỏ ra vui sướng và tự mình giết những người đồng tính, những người mà ông ghét cay ghét đắng, trong khi giúp xây dựng hàng loạt trại tập trung của Fidel trên khắp cả nước để tra tấn những người đồng tính và những người đàn ông biến thái nhằm buộc họ phải từ bỏ điều được coi là trụy lạc, được coi sản phẩm của chủ nghĩa tư bản suy đồi về mặt đạo đức.
Tại sao các cuộc cách mạng mang tính cải cách đều thích giết cả những người trí thức cánh tả và những “nhóm dễ bị tổn thương” vốn gần gũi như thế với trung tâm của cánh tả? Bởi vì quyền lực có logic riêng của nó. Bởi vì tất cả các chính phủ dựa vào bạo lực đều phải thường xuyên ngó lại phía sau. Và điều đó có nghĩa là nó phải kêu gọi những bản năng thấp kém nhất của quần chúng. Nếu quần chúng ghét người đồng tính, hay người Do Thái, hay các nhà trí thức thì chính phủ sẽ làm những gì nó nói, nó sẽ đưa những người đồng tính, người Do Thái và trí thức vào trại khổ sai. Những người thấp hèn nhất ghét cái gì thì chính phủ toàn trí toàn năng ghét cái ấy.
Tại sao các nhà trí thức lại không nhìn thấy mô thức hành động khủng khiếp này? Có lẽ, họ hy vọng rằng lần này khác và lần này những người cấp tiến trong các trường đại học và các chính trị gia sa lông của họ sẽ nắm được dây cương. Nếu lịch sử là người dẫn đường thì những người đó sẽ không giữ được dây cương. Không những thế, những nhà chính trị chuyên nghiệp sẽ giật mất cuộc cách mạng của họ và biến nó thành cơn ác mộng khủng khiếp nhất đối với họ: biến thành cuộc cách mạng phản-trí-tuệ, chống người đồng tính, phân biệt chủng tộc và bài Do Thái. Dù khởi nguồn của cách mạng có trong sạch đến đâu thì lịch sử cũng cho thấy kết quả tất yếu là như thế.
Chẳng có gì vui cả. Không ai trong chúng ta muốn những người cánh tả cấp tiến bị treo lên cột đèn hay bị giết trong văn phòng của Che cho ông ta xem. Chúng ta muốn là những nhà cải cách ủng hộ bạo lực sẽ phải có thái độ thận trọng hơn nữa với mồi lửa mà họ đang nhóm lên. Họ nên nghiên cứu thêm một chút về lịch sử. Để hiểu lý do tại sao, lúc nào và ở đâu nó cũng như thế, để hiểu cưỡi lên con hổ mang tên chính phủ có quyền lực không hạn chế là việc nguy hiểm đến mức nào.
Những người cánh tả nghĩ rằng họ có thể kiểm soát được con hổ mang tên quần chúng đã được phá cũi sổ lồng. Nhưng họ không thể kiểm soát được và trên thực tế, họ sẽ là người đầu tiên bị treo lên cột đèn. Và đấy là điều rất đáng buồn cho tất cả chúng ta, cả những người tả khuynh lẫn hữu khuynh.
Tác giả: Peter St. Onge
Người dịch: Phạm Nguyên Trường
Peter St. Onge là Phó giáo sư tại Taiwan’s Fengjia University College of Business.
Nguồn: Mises Institute
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
