Trần Văn Thọ
Trước khúc
ngoặt của lich sử, vận mệnh đất
nước và dân tộc tất nhiên
tùy thuộc vào hành động của
nhũng người có trách nhiệm. Dĩ
nhiên tiên đề là phải có
tinh thần yêu nước, có ý chí,
có ý thức trách nhiệm, nhưng
nếu không đủ trí tuệ, không
có đầu óc linh hoạt cảm nhận
ngay được cái mới để từ
bỏ nhanh những tư tưởng lỗi thời
thì sẽ đưa ra những quyết định
sai lầm hoặc bỏ mất thời cơ.
Vào giữa
thế kỷ 19, Nhật Bản là một nước
phong kiến, bế quan tỏa cảng, xã hội
phân chia thành các giai cấp sĩ, nông,
công, thương và chịu ảnh hưởng
của Nho giáo. Thế rồi chiến thuyền
Mỹ của đô đốc Perry xuất hiện
ở vịnh Edo năm 1853 đã khuấy động
cả xã hội phẳng lặng đó.
Nhưng chỉ có 15 năm (Minh Trị duy tân
bắt đầu năm 1868), các sĩ phu, các
lãnh đạo của Nhật đã biến
một đất nước phong kiến bảo
thủ trở thành một nhà nước
tiếp thu toàn diện thế giới văn
minh để tiến lên hàng các quốc
gia thượng đẳng. Ý chí, trí
tuệ và sự chuyển dịch tư tưởng
rất nhanh của những lãnh đạo thời
đó đã xoay chuyển đất nước
một cách ngoạn mục với một tốc
độ có thể nói là kỳ diệu.
Thời
đại Edo ở Nhật kéo dài từ
năm 1603 đến năm 1867. Quyền cai trị
đất nước tập trung vào chính
quyền Mạc Phủ đóng tại Edo (Tokyo
ngày nay) do các tướng quân của
dòng họ Tokugawa nối tiếp nhau lãnh
đạo. Thiên hoàng (đóng đô
ở Kyoto) chỉ có vai trò tượng
trưng. Cả nước chia thành 277 phiên
(han),
mỗi phiên có một lãnh chúa
(daimyo)
đứng đầu. Cứ hai năm một lần
các lãnh chúa phải về Edo chầu
tướng quân, một quy chế lập ra để
duy trì sự trung thành của các phiên
đối với Mạc Phủ. Tuy nhiên từ
đầu thế kỷ 19, một số phiên
ở phía tây nam mạnh lên về kinh
tế và quân sự nên sự gắn
bó với Mạc Phủ yếu đi. Hai phiên
mạnh nhất thời đó là Satsuma
(tỉnh Kagoshima ngày nay) và Choshu (Yamaguchi
ngày nay). Về đối ngoại, chính
quyền Edo theo chính sách bế quan tỏa
cảng, chỉ cho ngoại lệ là cảng
Nagasaki được giao thương với nước
ngoài.
Năm
1853, hạm đội Mỹ do đô đốc
Perry dẫn đầu ghé cảng Uraga ở
vịnh Edo, yêu cầu Mạc Phủ mở cửa
giao thương. Cả xã hội náo động
vì sự kiện này. Đến năm
1858, Perry lại đến và yêu cầu ký
kết các hiệp ước bất lợi
cho Nhật với hai nội dung chính là
Nhật mất chủ quyền về thuế quan
(không được dùng thuế quan để
bảo hộ sản phẩm trong nước khi mậu
dịch với nước ngoài) và không
có quyền tài phán đối với
người nước ngoài cư trú tại
Nhật. Chính quyền Mạc Phủ sợ các
nước phương tây gây chiến nên
đồng ý ký các hiệp ước
đó. Ngoài Mỹ, các nước
khác như Pháp, Anh, Hoà Lan, Nga cũng
ép Nhật ký các hiệp ước
tương tự.
Lúc đó
chính trị Nhật rối bời và chia
ra nhiều phe có các lập trường
khác nhau. Đối nội có 2 quan điểm:
“tôn vương” (chủ trương
dành thực quyền về cho thiên hoàng)
hay duy trì thể chế cũ (do Mạc Phủ
cai trị); đối ngoại cũng có hai
quan điểm: bài ngoại (nhương
di)
hay khai phóng (mở của giao thương và
học tập nước ngoài). Như vậy
kết hợp lập trường đối nội
và đối ngoại có tới 4 phe phái.
Đặc biệt hai phiên mạnh nhất
Satsuma và Choshu lúc đầu có tư
tưởng bài ngoại, quyết chống Tây
phương bằng vũ lực. Nhưng về
mặt đối nội thì hai bên có
lập trường khác, Satsuma ủng hộ
Mạc Phủ trong khi Choshu thì tôn vương.
Do khác nhau về chính sách đối
nội, hai phiên này mâu thuẫn nhau, có
lúc xảy ra giao tranh khi Satsuma vâng lệnh
Mạc Phủ cử binh đi chinh phạt Choshu.
Sang thập niên
1860, tình hình biến chuyển theo một
hướng hoàn toàn mới. Năm 1863, do
chính sách bài ngoại, Satsuma đã
bắn vào thương thuyền của Anh và
chiến tranh xảy ra. Nhưng với vũ khí
tối tân, Anh đã thắng dễ dàng.
Cũng trong thời gian đó, Choshu tấn công
thương thuyền của Mỹ, Pháp và
Hoà Lan tại eo biển Kanmon. Ba nước
phản kích và Choshu thua ngay. Sau dịp thử
sức này, cả Satsuma và Choshu nhận
thấy không thể đối đầu với
Tây phương bằng quân sự mà
phải có chiến lược khác. Cùng
lúc đó ý kiến của các
nhà tư tưởng như Yoshida Shoin và
Takasugi Kensaku ngày càng được chú
ý. Yoshida cho rằng không biết người
thì làm sao thắng được người
trong các cuộc tranh chấp. Takasugi, học trò
của Yoshida, triển khai ý ấy thành
chính sách cụ thể “phải
học tập nước ngoài mới có
ngày thắng được nước ngoài”.
Takasugi cũng là người được
Choshu cử đi gặp đại diện các
nước Mỹ, Pháp và Hoà Lan để
xin hoà sau cuộc xung đột ở eo biển
Kanmon.
Với sự
chuyển hướng của hai phiên mạnh
nhất, khuynh hướng hoà hoãn với
nước ngoài và học tập văn
minh tây phương dần dần chiếm ưu
thế. Vấn đề còn lại là đối
nội: thế lực nào sẽ lãnh đạo
trong thời đại học tập nước
ngoài để xây dựng đất nước?
Tại phiên Satsuma, với sự chuyển giao
thế hệ lãnh đạo sang những người
trẻ như Saigo Takamori và Ohkubo Toshimichi, hai
người mà sau này giữ vai trò
nòng cốt trong việc xây dựng thời
đại Minh Trị, ý thức ủng hộ
Mạc Phủ ngày càng phai nhạt và
dần dần họ thấy phải đoàn
kết chung quanh thiên hoàng, biểu tượng
cho sự thống nhất dân tộc, mới
đưa đất nước vào giai đoạn
mới.
Vào thời
điểm đó, sự xuất hiện của
Sakamoto Ryoma, một chí sĩ thuộc phiên
Tosa (Kochi ngày nay), trên vũ đài
chính trị rất đúng lúc. Lúc
18 tuổi (năm 1853) trên đường từ
Tosa lên Edo để học kiếm thuật,
Sakamoto đã tận mắt chứng kiến
hạm đội hiện đại của Perry,
cảm nhận sức mạnh của phương
Tây và thấy Nhật phải thay đổi
mới thoát được nguy cơ bị
thực dân hóa. Tương truyền rằng
sau đó ông đã tìm đọc
hết những sách kinh điển của các
nước tây Âu vừa mới được
dịch sang tiếng Nhật. Chuyện kể rằng
ông đã
nói với người bạn đồng hương
lâu ngày mới gặp lại rằng “vũ
khí quan trọng của thời đại bây
giờ không phải là thanh gươm cây
kiếm, cũng không phải là súng
ống mà là cái nầy đây”
(ông rút trong túi ra đưa cho bạn
xem cuốn
Vạn quốc công pháp
vừa được phát hành (năm
1865), đây là cuốn sách dịch từ
cuốn Elements
of International Law
của Henry Wheaton.
Sakamoto nhận thấy
Mạc Phủ không còn uy tín và
năng lực để lãnh đạo đất
nước trong thời đại mới nên
đã vận động quy tụ thế lực
mới mà bắt đầu bằng việc
điều đình để hai phiên mạnh
nhất là Satsuma và Choshu làm hoà
với nhau. Kết cuộc ông đã thành
công và đồng minh Satsuma-Choshu ra đời.
Họ đã liên hiệp với hai phiên
khác là Tosa và Hizen (Saga ngày nay) tạo
thành lực lượng tôn vương
mạnh mẽ.
Saigo Takamori trở thành chỉ huy trưởng
của lực lượng nầy.
Hình trái: Saigo
Takamori ; phải:
Katsu Kaishu
Hội
đàm Saigo-Katsu ở đền Atago, ngoại thành Edo
Trước sức
mạnh của phe tôn vương, tướng
quân đương thời và cũng là
tướng quân cuối cùng của Mạc
Phủ là Yoshinobu thỏa hiệp bằng cách
trả lại thực quyền cho thiên hoàng
(tháng 10/1867) với hy vọng tham gia chính
phủ mới trong đó quyền lợi của
Tokugawa được duy trì. Tuy nhiên kết
cuộc phía Tokugawa thấy mình bị mất
quá nhiều quyền lợi, chẳng hạn
phải giải tán quân đội đã
có từ trước, nên đã đem
quân chống lại phía thiên hoàng.
Cuộc nội chiến kéo dài gần nửa
năm, cuối cùng Tokugawa suy yếu phải
rút quân về cố thủ thành Edo.
Tướng giữ thành lúc đó là
tổng đốc lục quân Katsu Kaishu. Quân
đội phía thiên hoàng do Saigo Takamori
chỉ huy tiến về Edo chuẩn bị vây
thành.
Trước khả
năng nước ngoài tìm cách thôn
tính Nhật, những nhà lãnh đạo
hai bên Mạc Phủ và thiên hoàng
phải có quyết định để tránh
tổn thất lớn cho đất nước.
Cuối cùng, phân tích lực lượng
hai bên và tình hình thế giới,
và suy nghĩ về tương lai đất
nước, tướng Katsu đã đi đến
quyết định là phải đầu hàng
quân đội thiên hoàng mới cứu
được nước Nhật ra khỏi thảm
họa. Ông thuyết phục phe chủ chiến
trong thành và hứa sẽ đưa ra các
điều kiện đầu hàng không
phương hại đến tính mạng và
tài sản tối thiểu của gia đình,
thân tộc và quan lại của Mạc
Phủ.
Cuộc đàm
phán giữa hai tướng Saigo và Katsu đã
diễn ra thuận lợi ngoài dự tưởng
của Katsu, nhất là thái độ rất
hoà nhã và khiêm tốn của Saigo
đối với người chiến bại đã
làm phía Tokugawa thấy yên tâm và
không hề có mặc cảm của người
thất thế. Phía tướng Katsu cũng
trình bày nội tình của phe Tokugawa
với thái độ chân thành. Saigo đã
đồng ý các điều kiện đầu
hàng. Ông đã về thuyết phục
những người chủ chiến phía thiên
hoàng. Với uy tín của Saigo mọi người
đã chấp nhận chấm dứt chiến
tranh theo kết quả cuộc hội đàm
của Saigo và Katsu. Lịch sử đã
ghi lại sự kiện nầy bằng 4 chữ Vô
huyết khai thành
(mở của thành đầu hàng để
tránh đổ máu). Tướng quân
Yoshinobu được cho về sống cuộc đời
ẩn dật tại Shizuoka (gần núi Phú
sĩ). Những người tài giỏi của
thời Tokugawa được chính quyền
Minh Trị mời cộng tác. Đặc biệt
tướng Katsu được mời làm bộ
trưởng hải quân vì ông nguyên
là chuyên gia về kỹ thuật quân
sự tây phương, am hiểu nghệ thuật
cầm quân trên biển. Hải quân của
Nhật được cận đại hóa
và sau nầy giành thắng lợi trong
chiến tranh Nhật Nga (1905) một phần to lớn
có công lao của Katsu, nói rộng ra là
nhờ chính sách đặt lợi ích
dân tộc lên trên hết của những
người lập ra chính quyền Minh Trị
nên những người tài của chế
độ cũ được trọng dụng.
Vài tháng
sau sự kiện vô huyết khai thành, Edo
được đổi tên là Tokyo (tháng
7/1868) và sau đó ít lâu Minh Trị
thiên hoàng dời đô từ Kyoto về
Tokyo (tháng 10/1868), đánh dấu một
thời đại mới.
Như
vậy chỉ trong vòng 15 năm Nhật Bản
đã làm được cuộc cách
mạng đưa đất nước vào kỷ
nguyên mới. Có thể tóm tắt
những yếu tố làm nên kỳ tích
này.
Thứ nhất,
các sĩ phu, các lãnh đạo thời
đó đã đặt tiền đồ,
vận mệnh đất nước lên trên
hết nên đã thỏa hiệp nhanh chóng.
Họ đã khôn khéo dùng thiên
hoàng làm biểu tượng để dễ
thống nhất các lực lượng vốn
đã phân tán do chế độ phiên
trấn thời Mạc Phủ. Trước nguy cơ
bị nước ngoài thống trị, dù
với lập trường nào, họ cũng
cảm thấy trách nhiệm với đất
nước nên đã giải quyết các
tranh chấp nội bộ rất nhanh, đã
không kéo dài các cuộc nội
chiến làm hao tổn nội lực.
Thứ hai, những
sĩ phu, những lãnh đạo của Nhật
thời đó thức thời nhanh chóng
nên đã thay đổi chiến lược
một cách ngoạn mục. Mới đánh
một trận họ đã nhận ngay ra được
sức mạnh quân sự của Âu Mỹ,
mới đọc một số sách vở đã
ngộ ra được sức mạnh của văn
minh phương Tây và thấy là mình
phải học hỏi để canh tân đất
nước. Đằng sau những phán đoán
chính xác và thay đổi chiến
lược kịp thời nầy là tinh thần
và nỗ lực học hỏi, tìm hiểu
nguồn gốc sức mạnh của những
người, những thế lực mới lạ
đến từ phương Tây.
Ngày nay với
tiến bộ của khoa học về phương
tiện đi lại và liên lạc, việc
tiếp xúc học hỏi với bên ngoài
quá dễ dàng. Tuy nhiên không ít
trường hợp lãnh đạo của
nhiều nước phải mất hàng chục
năm mới thực hiện được vài
cải cách, mất hàng nửa thế kỷ
hay lâu hơn mới thay đổi được
tư duy, chiến lược cần thiết để
đất nước phát triển./.
Tokyo
trước thềm năm 2015
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét